JA Teline V - шаблон joomla Форекс

Sidebar

25
Fri, Jun
0 New Articles

MINH ĐỈNH DANH LAM TÂM LINH VÀ HUYỀN THOẠI (KỲ 1)

TÍN NGƯỠNG VÀ LỄ HỘI
Typography

 

Nói Trường Yên là nói đến cõi đất, cõi người, miền đất cổ phủ Trường An ven núi phía tây bắc, cuối dải Trường Sơn chạy suốt từ Sơn La - Hòa Bình về vươn ra đến lợi nước Nga Sơn (Thanh Hóa) với cửa Thần Phù ở phía tây nam mà sử và dân gian đều gọi là Tam Điệp Sơn và sông Hát Môn (sông Đáy) chạy từ Sơn Tây vào Ninh Bình ở Kiểm Lộng (Kẽm Trống), xuôi tận cửa Đáy (xã Kim Đông, Kim Sơn), chia ra đông bắc (Nam Định) – tây nam (Ninh Bình). Núi (dương) và sông (âm) giao hòa làm miền đất cổ Hoa Lư thời Đinh – Tiền Lê, Trường Yên phủ thời Lý – Trần rồi Ninh Bình tỉnh thời Nguyễn (1831) trù phú. Vùng đất non kỳ thủy tú “tả thanh long (sông Đáy), hữu bạch hổ (núi Tam Điệp)”, tạo nên thế đất địa chiến lược, chia đôi Nam – Bắc, “Cổ họng Bắc – Nam(1). Binh pháp bàn rằng, kẻ “Tranh được núi thì vững, giữ chỗ hiểm thì chắc(2). Vì thế, đất nước thời loạn, sau khi dẹp 12 sứ quân, lập nhà nước quân chủ, trong chưa thật yên và vững, ngoài thì nhà Tống lăm le ở phía Bắc, người Chiêm rình rập ở Nam, Đinh Bộ Lĩnh chọn thung lũng Hoa Lư bao quanh là núi để dựng kinh đô; chọn lấy bốn quả núi có thần thiêng trấn trị bốn phương: Phương bắc là núi Ba Chon (Gia Hòa) có Tứ Vị Hồng Nương, bốn nữ tướng đời Trưng Trắc - Trưng Nhị những năm 43 tr.CN ngự, Thánh Minh Không (Gia Thắng) đời Lý trấn; Phương nam chọn Thiện Dưỡng núi thiêng, đặt Quý Minh thần trấn; Phía đông có Vũ Đương sơn, Trấn Vũ Thiên Tôn thần coi giữ. Thần Cao Sơn ngự ở Bái Đính sơn bảo vệ kinh Hoa Lư thành ở phía tây, gọi là Hoa Lư tứ trấn. Bởi thế nên xã tắc vững thái bình, lòng dân yên ổn hoan ca.

1. Bái Đính, trấn tây Hoa Lư tứ trấn.

Núi Bái Đính là ngọn núi cao và thiêng trong quần thể Bái Lĩnh sơn. Đại Nam thống nhất chí (3) Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên(4)  đều chép: “... Phía tây nam huyện Gia Viễn, ở địa phận các xã Phúc Lai, Sinh Dược, Mộc Hoàn, Xuân Trì, Lê xá và Khoáng Trang thuộc các huyện Phụng Hóa và Gia Viễn, một dải núi đất liền với sơn phận Chi Phong và Trường Yên bên cạnh. Đỉnh núi có đền Thần Cao Sơn”.

Núi Bái Đính có các tên gọi: Đính sơn, Bái Đính sơn, Bái Lĩnh sơn.

Núi Đính là tên gọi của người bình dân theo nghĩa chuyển (chệch) của “đỉnh”, điểm cao nhất trong “đỉnh núi”. Đá núi có hình những viên (hòn) đất mà người bình dân thường dùng tay để móc (sấn), "đắp, xếp" chồng lên nhau thành núi. Tương truyền những “viên đá” ấy là kết quả  công cuộc dâng núi lên cao trong cuộc “thủy chiến” của các vị thần núi chống nạn hồng thủy của thủy thần, người bình dân Ninh Bình nói rằng:

Núi Đính ai đắp mà cao,

Ngã ba Non N­ước ai đào mà sâu?

                                                                                    (Ca dao Ninh Bình)

Núi Đính trong câu ca dao, nghĩa hẹp là một quả (ngọn) núi, đứng độc lập, cao 187 mét, diện tích khoảng 150.000m2, có dáng vòng tay ngai, hướng về phía tây nam ôm lấy thung Chùa (còn gọi là Thung Nhãn) rộng chừng 3ha, lưng quay hướng đông bắc. Nhìn từ phía sau, núi giống như người khổng lồ ngồi quay lưng ra biển, hai chân ruỗi theo hướng tây bắc – tây nam; mặt hướng về phía đông bắc, quê hương của Đinh Bộ Lĩnh (đời Đinh) và Nguyễn Chí Thành – Minh Không (đời Lý). Phía bên trái (phía tây bắc) là  ba quả đồi đất tạo thành “ba ông đầu rau; bên phải là thung Hoa Lư và thành Nam – kinh đô Hoa Lư thế kỉ X.

Đính sơn đứng ở phía tây kinh đô Hoa Lư thuộc thôn Ổ Gà, làng Sơn (Sinh) Dược, tổng Vân Cái, nay là thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn cách thị trấn Me, huyện lị huyện Gia Viễn khoảng hơn 2km về phía nam theo đường chim bay, cách thành phố Ninh Bình khoảng 17km theo đ­ường du lịch Tràng An về phía tây bắc, cách Cố đô Hoa Lư 5km về phía đông, cách Hà Nội 107km về phía nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.643km về phía bắc.

Bái Đính (Bái Lĩnh) sơn

Theo Từ điển Hán - Việt từ và ngữ Hán – Việt(5): “Bái” là “lễ nghi, vái, lạy” chào. Bái Đính có thể hiểu là “núi có lễ /bái trên đỉnh cao... ở trên núi đã diễn ra lễ Nam giao, phong hầu bái tướng(6); Bái Lĩnh nghĩa là bái lạy để lĩnh nhận. Địa danh Bái Lĩnh là nơi đã diễn ra các sự kiện lịch sử và văn hóa của người Đại Việt: nơi Đinh Tiên Hoàng đế (968 – 979) lập đàn tế Nam Giao; Nơi đặt thờ thần núi Cao Sơn trên núi làm đồn trấn phía tây làm “phên dậu” bảo vệ kinh thành Hoa Lư suốt 42 năm (968 – 1010) dưới 3 triều Đinh – Tiền Lê – Lý; Nơi Nguyễn Minh Không thời Lý (1010 – 1225) lập chùa thờ Phật để tu hành và trồng thuốc chữa bệnh cứu người; Nơi các bậc vua chúa phong kiến các đời mỗi khi vi hành vào Nam ra Bắc đều dừng chân ngắm cảnh non nước hữu tình, ngâm vịnh đề thơ, lập đàn tế cờ, bái tướng, cầu âm phù dương trợ cho dân nước; Thế kỷ XVI, là địa bàn tranh chấp giữa 2 tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh (ở Ái Châu) với nhà Mạc (ở Bắc Hà); Nơi chúa Trịnh Tùng nhà Lê – Trịnh đón cha con họ Bùi(7), tướng nhà Mạc theo hàng nhà Lê – Trịnh; Vua Quang Trung lập đàn tế cờ, động viên quân sĩ trước khi thần tốc tiến ra Thăng Long đại phá 29 vạn quân Thanh (1789). 

Sông Hoàng Long (phía đông), hợp lưu của sông Lạng, sông Bôi và sông Lê ở ngã ba Kênh Gà, xuôi xuống thôn Phú Mỹ đến chân núi Bồ Đình (Gia Vượng), Kì Lân (Gia Phương), Điềm Giang (Gia Thắng), Điềm Xá (Gia Tiến) sách cổ gọi là sông Đại Hoàng, qua phía đông quần thể Bái Đính sơn, xuôi đến bến đò Trường Yên để ra ngã ba Gián Khẩu đổ vào sông Thanh Quyết (sông Đáy) mà về phía nam, đổ ra biển oqr Cửa Đáy (xã Kim Đông, Kim Sơn); Dãy núi đá vôi từ Hòa Bình đổ về Tam Điệp ở tây nam, một nhánh chạy vào khu vực tây bắc Yên Mô, phía nam của kinh đô Hoa Lư làm thành Hạ Long cạn vây ba mặt tây – nam và đông: đông bắc là các núi Hàm Rồng, Hàm Xà, Hàn Cay, Trai Sơn, Oản (Ỏn) và núi Phường; tây bắc là núi Lê, núi Khám, U Bò, Thanh Lương, núi Thờ, Ba Chạc của Quỳnh Lưu, Sơn Lai (Nho Quan); đông nam là Trư Sơn (Trường Yên, Hoa Lư), Án Mã, Thung Lang – Cửa Ui (Sơn Hà, Nho Quan) và quần thể núi nước thành Nam, kinh đô Hoa Lư, nay là khu danh thắng Tràng An. Sông trước, núi bao lấy ba mặt, Bái Đính là một quần thể núi sông kì ngộ, phong cảnh hữu tình, đất linh, nhân sinh, vật thịnh nổi lên và cao hơn giữa vùng núi đá, đồi đất tạo nên “thế đột khởi” vững chãi, vươn mình như một con long mã hướng về Đại Hoàng cổ, chầu về đất linh Đại Hữu (sinh Vương), Điềm Dương (sinh Thánh), bao quát cả một vùng rộng lớn, trấn giữ phía tây Kinh thành Hoa Lư TKX.

--------------

Chú thích:

1. Đại Nam nhất thống chí (大南一統志) là bộ sách dư địa chí (địa lí, lịch sử) Việt Nam, viết bằng chữ Hán do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn thời vua Tự Đức (1848 – 1883).

2. Hoàng Lê nhất thống chí (皇黎一統志), Ngô gia văn phái tùng thư của các tác giả thuộc dòng họ Ngô Thì ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, Hà Nội.

3. Đại Nam thống nhất chíNxb Khoa học – Xã hội, Hà Nội, 2007, tr.36.

4. Nguyễn Tử Mẫn (1816 – 1901), Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên, Nguyễn Mạnh Duân dịch, Nguyễn Thụy Ứng hiệu đính, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội - 2001.

5. GS Nguyễn Lân, Từ điển Hán - Việt từ và ngữ Hán – Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa.

6. Trương Đình Tưởng, Hoa Lư vùng địa linh khai sáng, Văn nghệ Ninh Bình.

7. Mỹ quân công Bùi Văn Khuê, Lễ Quận Công Bùi Thì Trung và Nhai Quận công Bùi Khắc Kiệm.