JA Teline V - шаблон joomla Форекс

Sidebar

28
Tue, Sep
0 New Articles

CÓ MỘT CON ĐƯỜNG NHƯ THẾ

LỊCH SỬ- ĐẤT VÀ NGƯỜI
Typography

 

CÓ MỘT CON ĐƯỜNG NHƯ THẾ

                                          

Lâu nay, khi nói về cuộc kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của người Việt, người ta thường nói đến con đường bộ xuyên đất nước – đường Trường Sơn và gọi nó với cái tên thân thương "Đường mòn Hồ Chí Minh"; đường trên biển giành cho những con "tầu không số" là "Đường Hồ Chí Minh trên biển". Trong lịch sử nước Đại Cồ Việt có một con đường đóng góp không nhỏ trong mọi biến cố trọng đại của đất nước: Kênh Nhà Lê, dân gian gọi tắt là Kênh Lê, con đường ấy chưa được nhiều người biết đến.

Trước thế kỷ X, đường bộ Thanh Hóa đã hình thành nối với Trung bộ với Bắc Bộ. Do điều kiện tự nhiên và xã hội, khi đường bộ chưa giữ vai trò chủ lực trong hệ thống giao thông Bắc - Nam thì đường thuỷ từ trung tâm của quận Giao Chỉ đến quận Cửu Chân - Châu Ái (Thanh Hóa), châu Hoan (Nghệ - Tĩnh) trở thành quan trọng nhất.

Theo sử sách, sau khi lên ngôi Hoàng đế (980), Lê Đại Hành đã đem quân dẹp loạn Dương Tiến Lộc ở châu Ái và châu Hoan, phá sứ động Nhật Tắc và Chân Định (Thanh Hóa), khiến 49 động ở Hà Động phải tuân phục (năm 999), củng cố nền thống nhất quốc gia. Sau khi đánh Tống (981), bình Chiêm (982) thắng lợi, cùng với việc vận dụng đường lối ngoại giao khôn khéo với nhà Tống ở phía Bắc, Chiêm Thành ở phía Nam, vua Lê Đại Hành (980 – 1005) thi hành nhiều biện pháp nhằm củng cố quốc phòng, thúc đẩy kinh tế, văn hoá xã hội phát triển và mở mang cương thổ về phía nam. Hai mươi sáu năm trị vì, Lê Đại Hành đặc biệt quan tâm đến vùng đất phía nam của Đại Cồ Việt.

Đất Hoa Lư "cuối Bắc, mở Nam", cửa ngõ phía bắc, đất "giềng mối" Ái châu, Hoan châu. Bên cạnh việc xây dựng thành Lê Thiên Phúc (982) ở địa phận xã Quảng Nạp, nay là thôn Quảng Thượng, xã Yên Thắng, huyện Yên Mô, án ngữ đường bộ từ Nam ra, với tầm nhìn chiến lược cả về quân sự và kinh tế, vua Lê Đại Hành từng bước tổ chức làm tuyến kênh Ninh Bình - Thanh Hoá -  Nghệ An - Hà Tĩnh để phục vụ mục đích vận tải quân lương của nhà nước Đại Cồ Việt. Tuyến kênh ấy gọi là "Kênh Nhà Lê" (hoặc sông Nhà Lê). Hệ thống kênh này gồm nhiều sông, khúc sông tự nhiên được Lê Đại Hành tổ chức khơi vét hoặc đào mới, nắn thẳng, nối chúng với nhau thành hệ thống (tuyến) sông kênh, các triều đại sau, nhất là thời Lê Sơ (1428 – 1527) và cuộc kháng chiến chống Mỹ - Ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, sử dụng cho mục đích giao thông quân sự và phát triển nông nghiệp rất có hiệu quả. Đây là hệ thống giao thông thuỷ nội địa đầu tiên thể hiện sự lớn mạnh của quốc gia độc lập tự chủ.

Hai mươi sáu  năm trị vì, Lê Đại Hành (980 – 1005), đã tiến hành 6 hoạt động quân sự lớn ở phía nam không chỉ nhằm bảo vệ biên giới, mà còn trực tiếp chuẩn bị cho quá trình nam tiến, mở rộng thêm cương giới, lãnh thổ quốc gia của các triều đại Đại Việt sau này.

Hiện nay, 4 tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh vẫn còn những đoạn sông mang tên Kênh Nhà Lê nối thông thủy với nhau và với nhiều sông khác.

1. Kênh Nhà Lê ở Ninh Bình.

Sách sử của quốc gia không trực tiếp nói đến việc Lê Hoàn đào Kênh Nhà Lê ở Ninh Bình. Đại Nam thống nhất chí chỉ mô tả con đường thủy từ sông Đáy qua thành phố Ninh Bình ngày nay đến cửa Thần Phù mà ngày 1 tháng Giêng năm Tân Mão (1471), Lê Thánh Tông thân cầm quân đi đánh Chiêm Thành bắt sống Trà Toàn như sau: "Nước sông từ ngã ba Non Nước qua ngã ba Vũ Lâm, ngã ba Yên Đăng và ngã ba Yên  Phú thuộc huyện Yên Khánh,  lại chảy qua ngã ba LiênTrì huyện Yên Mô đến ngã ba Trinh Nữ, đến ngã ba Hổ, lại chảy qua Ngọc Thỏ đến ngã ba Bồ Xuyên đổ vào cửa Thần Phù"

Thần phả ở đình, đền, miếu thờ Lê Đại Hành ven hai bên Kênh Nhà Lê đi qua ở Yên Mô nhất là ở hai xã Yên Thái, Yên Lâm (Ninh Bình) và chùa Hàn Sơn Tự (Nga Điền, Thanh Hóa) đều cho thấy vùng sông nước này, dẫu xưa đầy sóng gió, qua cả ngàn năm, đến bây giờ vẫn in đậm trong tâm thức người dân:

Biển dâu thay cuộc, đổi thời,

Trơ trơ voi ngủ bên bờ kênh Lê.

                                       (Ca dao Yên Mô)

Năm Tân Mão (1051) mùa đông, tháng 11, Lý Thái Tông cho đào kênh Lẫm nối sông Vân Sàng "… ở phía nam huyện Yên Khánh, nước sông từ ngã ba Non Nước chảy qua ngã ba Vũ Lâm (tục gọi là kênh Khát, ngã ba Yên Đăng, ngã ba Yên Phú thuộc huyện Yên Khánh) lại chảy qua ngã ba Liên Trì thuộc huyện Yên Mô đến địa phận xã Trinh Nức gọi là sông Trinh Nữ, đến ngã ba Hổ lại chảy qua núi Ngọc Thỏ đến ngã ba Bồ Xuyên đổ vào cửa sông Thần Phù (trước cửa biển Thần Phù, đấy là chi lưu tắt). Còn từ sông Bạch Hổ (tức hạ lưu sông Trinh Nữ) chảy về phía đông nam đổ vào địa phận sông Càn, gọi là sông Càn (trước là cửa Càn), đấy là phân lưu"(1) với cửa Tạc Khẩu. Kênh này được Đại Nam nhất thống chí, mô tả: "… kênh Lẫm ở địa phận xã thần Phù, Phù Sa và Ngọc Lâm huyện Yên Mô, nguyên trước kênh này thông với sông Hổ Hà…"(2)

-----------

1,2. Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận Hóa - Huế, 2006, tr.302 - 304.

Tác giả Tìm hiểu vùng đất Yên Mô, tập 2 chép: "Tự Đức thứ 19 (1858) đào từ Đồng Nhân, xã Khánh Thượng, Khánh Hòa, huyện Yên Khánh qua Khánh Dương, Khánh An, Khánh Cư Khánh Vân, Khánh Thịnh, Yên Phong đến Phúc Khê (Yên Mô) nối vào Kênh Nhà Lê"(1) . Đó là đoạn sông đào nắn thẳng sông Vạc đi qua bến Vạc (bến đò ngang), thuộc làng Vạc, nay là thôn Yên Thịnh, xã Khánh Dương, huyện Yên Mô, để sông có thêm cái tên "Sông Vạc" trên bản đồ sông nước Ninh Bình. "Kênh Nhà Lê nối từ cầu Khang Thượng, tổng Yên Vân đi qua Phúc Giang, Khang Giang (còn gọi là sông Mạc hay sông Mới - TG), Phúc Khê, Đức hậu, Xuân Đồng, Phương Nại, Quảng Từ, Bình Hải, đi qua Cầu Lồng, Cổ Đà, Thọ Thái, Hưng Hiền, xuống Bồ Xuyên, trở ra Đồng Cói, xóm Trại Côi Trì, vòng sang Trại Lộc, bến Trâu, xuống Kênh Mèo, Giang Khương vòng ra Kênh Đào (sông Cầu Hội

– TG) rồi đi thẳng xuống Hảo Nho, Nhân Phẩm tiếp nối vào sông Tống Giang, Thanh Hóa"(2).

Sông ngòi Việt Nam (Nguồn sưu tầm), gọi Kênh Nhà Lê ở Ninh Bình là sông Yên Mô hay sông Bút và được tính từ ngã ba Đức Hậu chảy qua 6 xã (Yên Từ, Yên Nhân, Yên Mạc, Yên Thái, Yên Thành và Yên Lâm) đến cửa Thần Phù thì vào sông Tống (Nga Sơn, Thanh Hóa), với tổng chiều dài là 14km, một trong 4 tuyến sông của Ninh Bình được đưa vào danh sách các tuyến đường sông quốc gia.

Trong "Vai trò của Lê Hoàn hồi thế kỉ X đối với lịch sử dân tộc", Văn Tân cho biết, Lê Đại Hành còn "sai đào kênh nối sông Đáy với sông Hoạt đẻ tránh gió bão khắc nghiệt khi đi qua cửa Thần Phù"(3).

Chúng tôi đã thực hiện những chuyến đi thực tế, lần theo dấu tích các miền sông nước xưa và nay trên địa bàn huyện Yên Mô, tận mắt thấy, tai nghe các bậc cao niên của các làng xã hai bên lưu vực kể về những khúc sông - kênh gắn bó mật thiết với mỗi làng, xã mà dân địa phương vẫn gọi là Kênh Nhà Lê với tất cả tình cảm thân thiết và tự hào.

Nhìn trên bản đồ sông nước Ninh Bình: Từ kinh đô Hoa Lư, nay là Cố đô Hoa Lư – Trường Yên, theo sông Sào Khê đến ngã ba Cổ Loan thì gặp sông Tranh, đi non một kilômét thì gặp sông Vân Sàng cùng xuôi về phía tây nam, qua Vũng Trắm đến ngã ba Cầu Yên (Yên Kiều), gặp sông Hệ Dưỡng, hạ lưu của sông Bến Đang, xuyên qua QL1A xuống sông Vạc đổ thẳng về phía nam chừng 30 km đến Ngã ba Đức Hậu.

------------------

1, 2. Nguyễn Văn Nhưng, nguyên Phó Chủ tịch huyện Yên Mô, chủ biên, Tìm hiểu vùng đất Yên Mô, (tài liệu đánh máy, Yên Mô 2013), tr.16.

3. Văn Tân, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2, 1981, tr.8.

Ngã ba Đức Hậu mà Sông ngòi Việt Nam và PGS.TS Hà Mạnh Khoa(1) lấy tính làm điểm đầu tiên của Kênh Nhà Lê ở Ninh Bình là không chính xác.

Nhân dân Ninh Bình đào khúc sông từ làng Xuân Đồng (xã Yên Từ) ở phía nam, nối vuông góc với sông Vạc ở phía bắc, tại bến đò Đức Hậu làm thành ngã ba Đức Hậu vào những năm 1964 – 1965.  

Xưa, cửa "Kênh Nhà Lê" là chi lưu của sông Hoạch, ở phía đông làng Phúc Khê chảy vòng qua cánh đồng của làng Quảng Từ, đến phía bắc làng Xuân Đồng rồi xuôi theo phía nam xuống cầu Phương Nại (Giang Nại); đến phía tây bắc của xóm Bắc làng Bình Hải (xã Yên Nhân) thì gặp sông Nuốn gọi là ngã ba Nuốn (hạ nguồn sông Hổ Hà), qua đền Bình Hải vào ngã ba Bút (tại xóm 4, thôn Đông Sơn xã Yên Mỹ) thì đổ vào sông Tuy Định (xã Yên Lộc, Kim Sơn), ranh giới giữa xã Yên Nhân với ba xã Yên Từ, Yên Mỹ và Yên Mạc. Sông này là sông Càn cổ đổ ra cửa Càn Hải, nơi mà ca dao Ninh Bình đã ghi lại: "Cửa Càn một dải thênh thênh/ Mượn tay tạo hóa đắp thành ngàn dâu". Khúc sông này, "Sông ngòi Việt Nam" gọi là sông Yên Mô

Từ ngã ba Nuốn, sông Nuốn ngược lên phía tây bắc ven làng Nuốn, qua Cầu Lồng, gặp sông Hổ Hà, nối với Kênh Nhà Lê bằng khúc sông đào từ sông Trinh Nữ qua làng Tiên Hưng đến Hưng Hiền. Kênh Nhà Lê chảy ven theo làng Bồ Xuyên  ở phía đông nam, đến cầu Kênh (tại xóm Lộc, xã Yên Thành), về cầu Ghềnh ở xóm Xác Dưới, nay là xóm 4, Tây Sơn, xã Yên Mỹ để gặp Bút Giang.

Sông Bút nối sông Càn cổ tại ngã ba Bút (xóm 4, Đông Sơn, Yên Mỹ) chảy theo hướng đông – bắc, phía đông bắc chợ Bút, cắt đường 59 tại cầu Bút, qua cầu Quan Đeo đến phía bắc Bảng Sơn, cùng sông Trinh Nữ làm thành ngã ba nước, điểm khởi đầu của Kênh Đào còn gọi là sông Cầu Hội. Phía bắc ngã ba nước này là cầu Ghềnh, cây cầu nối xã Yên Mỹ với xã Yên Hòa, phía đông nam là cầu Quan Đeo(1), nối xã Yên Mạc với xã Yên Mỹ mà Bút Giang là ranh giới hai xã.

----------------

1. PGS. TS Hà Mạnh Khoa - Viện Sử học, Nhà nước Đại Cồ Việt tổ chức thực hiện các công trình công cộng, Kỉ yếu hội thảo khoa học Vai trò của nhà nước Đại Cồ Việt trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt nam, Nxb Khoa học - Xã hội, tr.366.

2. Cầu Quan Đeo bắc qua Bút Giang nối cánh đồng Quan Đeo (Yên Mạc) với làng Côi Trì (xã Yên Mỹ), huyện Yên Mô. Cánh đồng Quan Đeo xưa là rừng rậm, chạy dài bao lấy Bảng Sơn. Tương truyền, ngày ấy có một ông quan có biệt tài luận biện, đổi đen thành trắng nên ông kiếm được của người đời khá nhiều tiền bạc. Lần ấy, ông dắt tất cả của cải kiếm được vào người, giả làm lái buôn mang đi cất dấu trong núi. Xẩm tối ông đến một khu rừng rất rậm rạp, trời tối đen, bỗng gặp ba tên cướp từ trong rừng nhảy bổ ra ôm chặt lấy ông bịt mồm, cướp hết số vàng bạc rồi đâm chết ông ở đây. Nơi ông bị đâm chết nay là cánh đồng Quan Đeo. Cầu Đeo nay vẫn còn.

Bút Giang nhận nước của sông Trinh Nữ và các chi lưu của sông Ghềnh, sông suối của rừng Tam Điệp, hồ Yên Đồng (hồ Mùa Thu)... chảy vào sông Cầu Hội, qua Cầu Hội, mà xuống Âu Hội, ranh giới giữa hai xã Yên Thái và Yên Thành với với Yên Mạc. Năm 2012, trong chương trình:  “Không sống chung với lũ”,  nhân  dân  Yên Mô xây dựng Âu Hội để  chủ động điều tiết nước sông - biển. (xem ảnh bên)

Âu cầu Hội, Yên Mô, Ninh Bình.

 (ảnh tư liệu)

Cho đến tận bây giờ, người Yên Lâm, Yên Thái... mỗi khi đứng trên bờ kênh này vẫn đau đáu một nỗi niềm nhớ thương: "Cầu Hội bắc qua kênh Lê/ Chiều chiều em đứng nhìn về Cố Đô" (Ca dao Yên Mô).

Qua Âu Hội, đến ngã ba Đông Yên (Yên Lâm), Làng Trấm (Yên Thái), sông Cầu Hội nhận nước của hồ Yên Thắng qua đập tràn, uốn lượn theo sườn của dãy Tam Điệp, xuôi ven làng Hảo Nho, Nhân Phẩm, qua kè Chính Đại xuống cửa Thần

Phù. Sông này xưa gọi là sông Thần Đầu, hai bên là núi dựng vách thành, trên trời gió cuộn, dưới biển sóng quật, nổi chìm, phép thử bản lĩnh của người quân tử: "Lênh đênh qua cửa Thần Phù/ Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm" trong ca dao cổ, đời Lê đổi thành Thần Phù. Hệ thống kênh - sông này nối với sông Tống tại xã Nga Điền, Nga Sơn, để vượt Tạc Khẩu vào Hà Trung, Thanh Hóa, làm thành một phần ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Ninh Bình - Thanh Hóa, giữa hai miền: miền Bắc và miền Trung; giới mốc phía tây nam của “Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng”, dấu gạch nối phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn hùng vĩ.

Những dòng kênh – sông này, từ Tiền Lê thế kỉ X đến các triều đại sau này đã sử dụng vận chuyển quân lương phục vụ cho các cuộc đánh dẹp giặc nam, mở mang bờ cõi của Đại Việt, góp phần quan trọng hình thành, phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội ở phía nam của Đại Cồ Việt. Hai bên lưu vực sông  Kênh Nhà Lê nay là những cánh đồng màu mỡ, dân cư đông đúc, làng xóm hữu tình. Sau "lũy tre làng", trường học mái ngói đỏ tươi, những đình - đền - miếu mạo rêu phong vẫn mãi lưu giữ những dấu tích về Người khai mở những dòng kênh, giữ yên vùng đất: "Yên Mô đông hải, tây hà..." giàu ánh sáng và khí trời ở cực nam đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.

2. Kênh Nhà Lê ở Thanh Hóa.

Cùng với việc cày ruộng tịch điền ở Đọi Sơn (Hà Nam), xuân Thiên Phúc thứ 8 (987), để khuyến  khích  phát  triển sản xuất nông nghiệp, Lê Đại Hành tiếp tục tổ chức làm kênh ở Thanh Hóa. Toàn thư chép rằng: "Khi nhà vua đi đánh Chiêm Thành, qua núi Đồng Cổ(1) đến sông Bà Hoà(2), đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng to khó đi lại, bèn sai đào kênh, đến đây (Quý Mùi (983) thì xong, công tư đều lợi"(3). Tận dụng những chi lưu nhỏ của sông Mã, sông Cầu Chày(4), sông Hoàng, sông Yên... Vua cho khơi sâu, đào để nắn thẳng một số đoạn cần thiết nối sông Thần Phù của Ninh Bình với sông Tống(5) của huyện Nga Sơn, sông Bảo Vân, sông Lèn(6) với sông Mã của Thanh Hóa. Năm 983, ở phía nam tỉnh Thanh Hóa, phía bắc của tỉnh Nghệ An, vua cho đào kênh từ sông Mã qua núi Đồng Cổ thuộc địa phận xã Tân Trường, huyện Tĩnh Gia đến sông Bà Hoà. Sông Bà Hoà là tên gọi khúc sông từ địa phận xã Tân Trường đến địa phận xã Hải Thượng theo hướng bắc. Khúc sông này còn có tên là sông Yên Hoà. Từ sông Bà Hoà đổ ra cửa Bạng, quân lính Lê Đại Hành đã đào một đoạn kênh thẳng ở vùng Mai Lâm, dài khoảng 1,5 km, để nắn thẳng dòng sông vốn đi theo hình vòng thúng, men theo dòng nước chảy ở khe Nước Lạnh. Lại  huy động lực lượng cho đào kênh từ cửa Thị Long đi qua các núi đá Liên Xá, Am Các, Hậu Trạch nối với sông Cầu Hang để xuôi ra cửa Bạng. Khúc sông đào này gọi là kênh Than hoặc kênh Trầm.

Gia phả họ Ngô chép rằng, Ngô Tử Án là con trai Ngô Xương Sắc. Ông làm quan triều Tiền Lê, Lý, được Lê Đại Hành sai đào vét các kênh sông từ Yên Định đến Tĩnh Gia... Sách Kinh đô Hoa Lư thời Đinh – Tiền Lê của ông Đặng Công Nga,

-------------

1. Núi Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa

2. Sông Bà Hòa chảy qua xã Bà Hòa, sau đổi là xã Đồng Hòa, nay thuộc huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

3. Đại Việt sử kí toàn thư, tr.136.

4. Sông Tống trên đất tỉnh Thanh Hóa tại xã Nga Vịnh chảy qua các xã Hà Long, Hà Giang, Hà Bắc, Quang Trung,  Hà Vân, Hà Thanh, Hà Lan hạ lưu của  sông Hoạt (ở phía hữu ngạn, dài dài 8 km), sông Tam Điệp (ở tả ngạn) được gọi là sông Nhà Lê (hay Kênh Nga).

5. Sông Cầu Chày (sông Ngọc Chùy), là chi lưu của sông Mã, dài 87 km, khởi nguồn từ núi Đàn thuộc huyện Ngọc Lặc, chảy qua các huyện Lang Chánh, Thọ Xuân và Thiệu Hóa rồi hợp với sông Mã ở hạ lưu.

6. Sông Lèn, một phân lưu của Sông Mã được tách ra từ sông Mã tại địa phận xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc và xã Hà Sơn, huyện Hà Trung, chảy theo hướng đông đổ ra vịnh Bắc Bộ tại cửa Lèn nằm giữa hai xã Nga Thủy, Nga Sơn và Đa Lộc, Hậu Lộc. Sông Lèn là ranh giới tự nhiên của các huyện Hà Trung, Nga Sơn (thuộc tả ngạn) với huyện Hậu Lộc (thuộc hữu ngạn), tổng chiều dài khoảng 34km, chảy cắt qua quốc lộ 1A tại cầu Đò Lèn, thị trấn Hà Trung, cách Hà Nội khoảng 130km về hướng nam).

Sở thông tin văn hóa Ninh Bình 2002 ấn hành chép: "Phạm Cự Lượng, người Nam Sách, Hải Dương, vốn là võ tướng lập nhiều công lao trong cuộc kháng Tống bình Chiêm các năm 981, 982. Đồng thời ông còn giúp nhà Lê trong việc khôi phục và phát triển kinh tế của đất nước, như năm 983, ông chỉ huy việc khơi sông mới từ Đồng Cổ đến Bà Hòa (Đan Nê – Yên Định đến Đồng Hòa – Tĩnh Gia, Thanh Hóa). Đất đào lên đắp thành đường đi, tiện cả hai đường thủy bộ. Sau khi ông mất được phong chức: "Lâm giang thủ tướng" (vị tướng cầm đầu của sông núi (1)). Trên kênh Sắt (nay thuộc huyện Quỳnh Lưu) ngày nay còn dấu vết một chiếc ghế đá tạc trong hang, sát với kênh Sắt, chỗ tựa của ghế có ba chữ "Thuỷ Thạch Tiên". Trên vách hang đá có bài thơ. Ghế đá và bài thơ là của Ngô Tử Án.

Từ khu vực xã Trường Lâm, kênh Bà Hòa chảy theo hướng nam đi men theo chân núi Xước nối với sông Hoàng Mai của huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Giáo sư Văn Tân cũng khẳng định:“Nhìn thấy con đường bộ đi vào Nghệ Tĩnh là con đường khó đi, làm nhọc sức quân đội và nhọc cả sức dân, gây nhiều tổn phí cho nhà nước. Vì vậy nhà vua đã ra lệnh đào một con kênh từ Bố Hạ, Quảng Xương ngày nay đến sông Bà Hoà (Tĩnh Gia) để có thể từ sông Mã cứ theo đường thuỷ mà vào đến tận Nghệ An".

Trên đất Thanh Hóa, hiện nay vẫn còn đoạn sông mang tên sông Nhà Lê, dài 17 km. Đoạn kênh này chảy qua hai huyện Thọ Xuân và Triệu Sơn, ranh giới giữa hai huyện Đông Sơn và Quảng Xương, rồi men theo phía nam thành phố Thanh Hóa. Khi vào đến địa phận xã Đông Nam của huyện Đông Sơn, sông tiếp tục đi xuống phía nam qua các huyện Nông Cống, Như Xuân và Tĩnh Gia. Đó là các sông Yên - Thị Long - Cây Giang - Vực Hùng – Thạch Luyện để vào phía bắc của Nghệ An. Những con kênh đào đó đã góp công không nhỏ giúp cho Lê Đại Hành (980 – 1005) và Lê Long Đĩnh (1006 – 1008) ra quân dẹp các cuộc nổi dậy ở Thanh Hoá trong các năm 999, 1001, 1005. Tuyến Kênh Nhà Lê mới đi qua các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa và Quảng Xương nằm gần biển hơn tuyến cũ từ Đồng Cổ đến Bà Hòa.

Trước thế kỷ X và cả sau này, đường bộ đi từ Giao Châu đến Ái Châu (Thanh Hoá) hết 10 ngày, từ Ái Châu đến Diễn Châu hết 5 ngày. Đi ngựa mỗi ngày 70 dặm (35.000m), đi bộ mỗi ngày 50 dặm (25.000m). Con đường thuỷ từ bến Hà Nội vào đến Thanh Hoá là 416 dặm (208.000m). Như thế, tính từ Giao Châu đến Thanh Hoá đường đi dài 500 dặm (250.000m), Thanh Hoá đến Diễn Châu là 250 dặm (125.000m). Trên đất Thanh Hoá, đường thuỷ từ sông Tống đến tỉnh Thanh Hoá có

---------------

1. Thần tích đền thôn Hưng Lộc, xã Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng, Nam Định, niên hiệu Cảnh Hưng 12 (1751).

77 dặm (38.500m), đến Diễn Châu là 140 dặm (70.000m). Đường thủy, dùng thuyền, nặng hay nhẹ mỗi ngày cũng đi được 70 dặm, Kênh Nhà Lê không những rút ngắn quảng đường mà rất thuận tiện, bí mật mà hiệu quả hơn nhiều so với đường bộ.

3.    Kênh Nhà Lê ở Nghệ An.

Xứ Nghệ thời Đinh - Tiền Lê là đất Hoan Châu, nay là hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, vùng đất: “làm giới hạn cho hai miền Nam - Bắc, thực là nơi hiểm yếu, như thành đồng ao nóng của nước và là then khóa của các triều đại”(1).

Để xây dựng xứ Nghệ thực sự trở thành một căn cứ vừa bảo vệ Kinh đô và đất nước ở phía Bắc, giữ yên biên giới phía Nam, vừa phát triển sản xuất, xây dựng nguồn lương thảo dự trữ, phòng khi có ngoại xâm đồng thời cũng là nơi lui binh bảo toàn lực lượng khi cần thiết, năm Quý Mão, niên hiệu Thiên Đức thứ 10 (1003), vua Lê Đại Hành đi Hoan Châu, tổ chức làm Kênh Nhà Lê trên đất Nghệ An mà điểm khởi đầu đầu tại núi Đồng Cổ, sông Mã của tỉnh Thanh Hóa vào đến tận Vũng Áng - đèo Ngang tỉnh Hà Tĩnh.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Quý Mão (Ứng Thiên) năm thứ 10 (1003) Tống Hàm Bình (năm thứ 6) vua đi Hoan Châu vét kênh Đa Cái(2) (nay là Hoa Cái) thẳng đến Tư Củng Trường ở Ám Châu"(3), nối thông với các sông tự nhiên thành một hệ thống đường thuỷ thông suốt từ sông Bà Hòa (phía nam của Thanh Hóa – phía bắc tỉnh Nghệ An) với sông Lam (ở phía nam tỉnh Nghệ An) làm thành tuyến đường thuỷ nội địa, dài 80km. Có kênh đào, việc chuyển binh, vận lương viễn chinh đánh Chiêm Thành của Lê Hoàn đều thông suốt. Nhận thấy thế mạnh này, Kênh Nhà Lê đoạn qua Nghệ An nối từ sông Bà Hòa (Tĩnh Gia – Thanh Hóa) với sông Lam, rồi từ sông Lam chạy vào đến Kỳ Anh – Hà Tĩnh đều cùng lúc được đào với Kênh Nhà Lê đoạn qua Thanh Hóa.

Các kênh đào ở Nghệ An được nhân dân và sử sách gọi là Kênh Nhà Lê khá cụ thể. Đoạn kênh chạy dọc biển hướng về phía nam từ Ngọc Huy chảy qua 7 xã Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh Minh, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh Nghĩa và Tiến Tủy vùng Bãi Ngang, nối sông Hoàng Mai với sông Thơi rồi đổ ra Lạch Quèn gọi là Kênh Mơ (hay kênh Mai Giang hoặc kênh Ngọc Để) dài khoảng 14km, rộng 10 – 12m. Đoạn kênh chạy từ Sòi Trẹ (xã Quỳnh Lộc) đến phía bắc làng Ngọc Huy (xã Hoàng Mai) đổ vào sông Hoàng Mai gọi là Kênh Son. Từ Lạch Quèn (xã Tiến Thủy), dòng kênh này men theo khe Nước Lạnh, nối với cửa sông

----------------

1. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí

2. Đa Cái: tên xã, thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Khúc kênh nổi nối kênh Sắt với sông Lam.

3. Đại Việt sử ký toàn thư , tr.141.

Thơi (tại xã Sơn Hải, huyện Quỳnh Lưu) là đường ranh giới phía nam Thanh Hóa - bắc Nghệ An. Khúc kênh này nay đã cạn và ít sử dụng.

Phía nam cửa Thơi, kênh My dài 13km nối sông Thơi với sông Bùng ở Cửa Vạn thuộc xã Diễn Bích, huyện Diễn Châu. Đây là đường kênh lên phủ lị Diễn Châu mà từ thời nhà Lý, quan Tri  châu Nghệ An là Lý Nhật Quang đã cắt quan đến đây trông giữ thuyền buôn ra vào cửa Vạn. Năm 1425, Lê Lợi đánh tan 300 chiến thuyền chở vũ khí và quân lương của quân Minh ở cửa sông này. Thời nhà Nguyễn, kênh này là kênh chủ vận chuyển vật liệu xây dựng thành Nghệ An. Cửa Vạn ngày nay là một trong tám thắng cảnh của Diễn Châu. Đoạn kênh nối sông Thơi với sông Hàu gọi là Kênh Dâu.

Kênh Sắt tại làng Thổ Hậu thuộc xã Diễm Quảng, điểm giáp ranh ba xã Diễn Quảng, Diễn Hạnh và Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, nối sông Bùng  với sông Cấm (huyện Nghi Lộc), "một dòng kênh nhỏ, từ thôn Thổ Hậu qua xã Phú Hậu, tổng Quan Trung, xã Nho Lâm, tổng Cao Xá, ngoằn ngoèo chảy đến kênh Sắt bến đò sông Cấm rồi hợp dòng đổ xuống cửa biển, dài 9 dặm, rộng 7 trượng, triều lên sâu 5 thước, triều xuống sâu 3 thước". Đoạn kênh này chảy qua Truông Sắt (xã Diễn An), huyện Diễn Châu và xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc ngày nay. Theo lịch sử, Kênh Sắt được khởi đào năm 1003, do Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy. Theo Đào Tam Tỉnh, "Kênh Sắt là tên gọi đoạn kênh nhà Lê chảy qua Truông Sắt thuộc xã Diễn An, huyện Diễn Châu và xã Nghi Yên, huyện Nghi Lộc ngày nay". Đây là vùng núi có mỏ sắt, khó đào, lòng kênh hẹp, nước cạn. Đến triều Nguyễn (1802 – 1945), khi

Hoàng Tá Viêm(1) làm Tổng đốc Nghệ An, với sự trợ giúp của Nguyễn Trường Tộ(2), đoạn kênh này được khơi thông và sâu. Năm 2012, tỉnh Nghệ An cho nạo vét và mở rộng Kênh Sắt, dài 9km đoạn qua huyện Diễn Châu. Những đoạn Kênh Nhà Lê ở Nghệ An đều nằm ở các huyện ven biển, thường mang các tên địa phương. Tàu thuyền vận tải có thể từ các bến cảng: Cửa Cờn, Cửa Quèn, Cửa Thơi, Cửa Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội... đến các vùng đồng bằng Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Hưng Nguyên – Nghi Lộc ngược Kênh Lê theo sông Bà Hòa (Thanh Hóa) mà ra Bắc, hoặc xuôi theo sông Rác vào Hà Tĩnh. Trong suốt quá trình tồn tại, Kênh Lê trở thành huyết mạch về giao thông thủy – thủy lợi,

 

--------------

1. Hoàng Kế Viêm (1820–1909) người thôn Văn La, xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, đỗ Cử nhân (1843), con rể vua Thiệu Trị (Công chúa Hương La). Năm 1863, Hoàng Kế Viêm được bổ làm Tổng đốc An – Tĩnh (Nghệ An và Hà Tĩnh). Ông vận động nhân dân và mời Nguyễn Trường Tộ lập phương án đào kênh Thiết Cảng. Ông mất năm 1909. Nguồn: Quảng Bình ẩn tích thời gian, Hội DSVH Việt Nam tỉnh – Sở Văn hóa – Thế thao và Du lịch Quảng Bình, 2009.

2. Nguyễn Trường Tộ (阮長祚, 1830 - 1871), còn được gọi là Thầy Lân; một Kiến trúc sư, một danh sĩ, nhà cải cách xã hội Việt Nam ở thế kỉ 19.

trong thời bình cũng như thời chiến. Người xứ Nghệ đến giờ vẫn còn truyền rằng:

Non cao ai đắp mà cao

Sông sâu ai bới, ai đào mà sâu.

                                     (Ca dao xứ Nghệ)

Trong muôn vàn cuộc đổi - dời, Kênh Nhà Lê trên đất Nghệ vẫn mãi là một bản hùng ca đẹp còn lưu đến mai sau.

4. Kênh Nhà Lê ở Hà Tĩnh.

Kênh Nhà Lê ở Hà Tĩnh uốn lượn quanh co hình rồng bắt đầu là sông Rác (sông Voi) điểm tiếp giáp giữa hai xã Cẩm Minh và Cẩm Lạc, huyện Cẩm Xuyên, (phía nam sông Lam, phía bắc tỉnh Hà Tĩnh), Kênh Nhà Lê chảy qua 8 xã Kỳ Phong, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Đồng, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh của huyện Kì Anh rồi ra biển ở Vũng Áng (phía nam tỉnh Hà Tĩnh). Sông là ranh giới giữa huyện Đức Thọ thị xã Hồng Lĩnh. Khi qua thị trấn Nghèn (Can Lộc), Kênh Nhà Lê đổi tên thành sông Nghèn rồi sông Đò Diệm, sông Phú, sông Đạo, sông Ngàn Mo, sông Thương Long, sông Quèn, sông Rác. Theo Thái Kim Đỉnh, nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa Hà Tĩnh "Kênh nhà Lê đoạn phía nam Hà Tĩnh là kênh đào cổ xưa, dài 35km, rộng trung bình từ 15 – 20m, có đoạn từ 25 – 30m là hệ thống nhưng đoạn kênh nối với sông tự nhiên. Kênh được khởi đào từ thời Tiền Lê với mục đích quân sự". Sách Đại Việt sử kí toàn thư chép: "Giáp Dần năm Long Khánh thứ 2, đời vua Trần Duệ Tông (1374), tháng 3 xuống chiếu cho Thanh Hóa, Nghệ An đào kênh đến biển Hà Hoa" (Vũng Áng - MĐH). Theo Đào Tam Tỉnh, trước, để vào phía nam Hà Tĩnh, thuyền phải đi ra cửa Nhượng Ban (của sông Rác, thuộc xã Cẩm Nhượng), ra biển để vào châu Ô, châu Lý tức cửa biển Nam Giới(1). Năm 1377, Trần Duệ Tông (1373 – 1377) cho đào kênh thông đến Cửa Khẩu (Vũng Áng) để tránh nguy hiểm.

Một hành trình từ Kinh đô Hoa Lư (TKX), theo Sào Khê xuống sông Vạc Hoạch (Vạc), tại Ngã ba Đức Hậu (cổ), theo sông Yên Mô đến cửa Thần Phù (Ninh Bình) vào sông Tống (Thanh Hóa), qua sông Bảo Vân, sông Lèn, thông vào sông Mã (ở huyện Đông Sơn), sông Yên, sông Thị Long, Thị Giang, Vực Hùng, Thạch Luyện qua sông Mỏ Đá, Hoàng Mai đến Cửa Cờn(2); theo sông My Giang, sông

-------------

1. Nam Giới tên gọi khác của Cửa Sót (tọa độ 1827’54’’ vĩ độ Bắc và 10555’30’’ kinh độ Đông), còn gọi là cửa Dương Luật (nằm giữa núi Nam Giới và rú Mốc), Lê Thánh Tông gọi là Nam Giới Hải môn,  "Cửa biển rộng 37 trượng, thủy triều lên sâu 8 thước, thủy triều xuống sâu 5 thước… trước kia thuền phương Bắc sang thường đậu ở đây" (Đại Nam nhất thống chí), rộng 700m, có cảnh trí thiên nhiên hùng vĩ gắn với nhiều truyền thuyết và huyền thoại.

2. Cửa biển thuộc xã Quỳnh Phương, huyện Quỳnh Lưu, nay là 2 phường Quỳnh Phương và Quỳnh lập, thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

Hàu, sông Me, Cầu Bùng của Diễn Châu vào sông Cấm, sông Đào, đến sông Nghèn, qua sông Đò Diệm, Cầu Phú, Gia Hội, sông Rác (nam sông Lam) ở đất Kì Anh ra cửa vịnh Vũng Áng (Hà Tĩnh), nơi thường xảy ra các cuộc xung đột giữa Đại Cồ Việt - Đại Việt và Chiêm Thành. Thời Trịnh – Nguyễn... đây là ranh giới chiến lược Bắc – Nam, Đèo Ngang.

Kênh Nhà Lê dài ước 500km. Khởi nguồn từ đời Tiền Lê (980 – 1009), đích thân vua quan tâm, đốc thúc, việc nạo vét, đào những đoạn kênh nối các con sông tự nhiên nội địa lại với nhau, mở ra tuyến vận tải thủy nội địa phục vụ cho mục đích giao thương và quân sự, Lê Đại Hành được coi là vị vua đầu tiên của nhà nước độc lập tự chủ tổ chức đào sông (kênh). Kênh ấy được gọi là Kênh Nhà Lê. Việc làm mở đầu này của nhà nước Đại Cồ Việt trong việc xây dựng các công trình giao thông thủy nội địa, chứng tỏ sự trưởng thành vượt bậc của một quốc gia, mở ra kỉ nguyên độc lập, thống nhất và tự chủ đầu tiên của nhà nước Đại Cồ Việt. Sự nghiệp mở đầu vĩ đại đó của Lê Đại Hành đã trở thành phương châm hành động của các triều đại sau này trong tiến trình lịch sử mở rộng cương vực về phía Nam của người Việt, nhất là khi Chúa Nguyên Hoàng (28 tháng 8, 1525 – 20 tháng 7 năm 1613) vào trấn thủ Thuận Hóa (1558). "Giáp Dần năm Long Khánh thứ 2 (1374), đời vua Trần Duệ Tông (1373 - 1377), tháng 3 xuống chiếu cho Thanh Hóa, Nghệ An đào kênh đến biển Hà Hoa". ("Đại Việt sử kí toàn thư"). Năm 1438, Lê Thái Tông (1434 – 1442) cho khơi đào các kênh ở Ninh Bình và Thanh Hóa. Năm 1445, Lê Nhân Tông (1443 – 1459) sai các quan đốc thúc quân lính đào các kênh ở lộ Thanh Hoá và Nghệ An. Năm 1744, vua Lê Hiển Tông (1470 – 1786) tiếp tục cho khơi kênh từ Thanh Hóa vào Nghệ An.  

Năm 1964, đế quốc Mỹ bắt đầu sử dụng máy bay ném bom để thực hiện cuộc chiến phá hoại miền Bắc, cắt đứt các con đường tiếp vận của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Các tuyến giao thông huyết mạch Bắc - Nam đều bị máy bay ngày đêm dội bom phong toả. Trước tình hình đó, Ban chỉ đạo nạo vét toàn tuyến kênh được thành lập, với tên gọi tắt là Ban KT65. Tuyến kênh đào Nhà Lê từ huyện Yên Mô, Ninh Bình xuyên qua Thanh Hóa, Nghệ An đến huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh được khôi phục lại.

Ngày 25 tháng 9 năm 1965, Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo các địa phương có kênh chảy qua trong đó có Ninh Bình đồng loạt thực hiện đợt nạo vét kênh quy mô lớn. Cuối năm 1965, trên toàn tuyến đã nạo vét được 365.000m3. Những đoạn cạn nhất được khoét sâu từ 50 – 60 cm và khi thuỷ triều lên đạt mức nước 1 - 1,2m, đảm bảo cho các loại thuyền có trọng tải trên 10 tấn đi lại thông suốt. Đồng thời, có 3 đại đội thanh niên xung phong với tổng số gần 1.000 đội viên nam, nữ được điều động chốt tại các khúc kênh quan trọng như kênh Son, Ma Đa, Cấm, Sắt... thường trực thông luồng khi cần thiết. Năm 1966, Hội đồng Chính phủ thành lập Ban khai thác Kênh Nhà Lê, trực thuộc Cục Vận tải đường sông, gọi tắt là Ban KT66. Ban KT66 vừa chỉ huy các lực lượng nạo vét kênh, khơi thông, lập bến bãi, tổ chức vận tải, vừa trực tiếp bắn máy bay địch và rà phá bom mìn từ trường bảo đảm an toàn cho tàu bè qua lại, giao thông đường thủy nội địa được thông suốt. Từ chuyến tàu đầu tiên năm 1965 đến khi hòa bình lập lại ở miền bắc cuối 1972, với những "Binh đoàn thuyền nan" (chỉ riêng Thanh Hóa đã có 5000 chiếc), khó có thể định lượng, tính đếm được đã có bao nhiêu tầu thuyền uyển chuyển xuôi ngược, bao nhiêu tấn hàng được lèo lái ra vào trên dòng sông – kênh này, bao nhiêu con người đã hiến dâng công sức, mồ hôi nước mắt, máu xương và tuổi trẻ của mình để chuyển hàng đến Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), để rồi ngược Trường Sơn vào Nam hoặc sang Lào, nơi chiến trường vẫy gọi.

Mức độ có thể khác nhau, song từ thời Tiền Lê (980 – 1009), (1010 – 1225), Trần (1226 – 1400), Lê (1428 – 1527), Nguyễn (1802 – 1945) đến kháng chiến chống Mỹ vĩ đại của người Việt (1964 – 1973), Kênh Nhà Lê được chăm chút khơi đào, nạo vét sông cũ, đào thêm các khúc kênh sông mới mở mang, nối khép thành tuyến đường giao thông thủy nội địa không chỉ phục vụ sự nghiệp đấu tranh giành độc lập thống nhất đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa xã hội mà còn là chứng nhân của các sự kiện theo suốt cả ngàn năm ăn sâu thành hồn cốt dân tộc, đất nước. Trong lịch sử Việt Nam, với những đóng góp cho sự nghiệp đánh giặc ngoại xâm hơn một ngàn năm, đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đấu tranh thống nhất đất nước (1964 – 1972), không dài như đường Trường Sơn, không rộng và sâu như "Đường không số" (Biển Đông), nhưng 500km (từ Yên Mô, Ninh Bình đến Vũng Áng – Hà Tĩnh) Kênh Nhà Lê xứng đáng được lịch sử tôn vinh.

Kênh Nhà Lê được công nhận là di tích lịch sử của đất nước. Tại  "Kia là cầu Cấm,  nơi  giao  nhau của đường sắt, đường bộ, đường thủy nên đã trở thành trọng điểm mà máy bay địch đánh phá vô cùng ác liệt"(1), Đài tưởng niệm "kênh nhà Lê" được dựng ở xóm Tây Sơn, xã Nghi Yên, bên kênh Sắt (Nghệ An), cạnh cầu Cấm (QL1A). "Con đường ấy" được mang tên: “ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH TRÊN SÔNG".

Ngày nay, tuyến giao thông này không

 

 

còn nguyên trạng nhưng hệ thống kênh - sông này hiện vẫn được gọi là sông Nhà Lê, vẫn hữu dụng trong đời sống của người dân bốn tỉnh Ninh Bình – Thanh Hóa – Nghệ An - Hà Tĩnh và vẹn nguyên trong tâm thức người Việt.

Văn nghệ Ninh Bình Số 134 (11/2014) và 137 + 138/ 1+2/ 2015.

--------------

1. Tiến sĩ Trần Đình Trị, nguyên Phó Cục trưởng Cục Đường sông Việt Nam