JA Teline V - шаблон joomla Форекс

Sidebar

28
Tue, Sep
0 New Articles

HÀO KHÍ BÔ CÔ

LỊCH SỬ- ĐẤT VÀ NGƯỜI
Typography

HÀO KHÍ BÔ CÔ

 

Nhân dịp kỉ niệm 610 năm (1408 - 2018)

ngày chiến thắng Bô Cô của nhà Hậu Trần (1407 - 1413).

 

Nhà sử nước Việt chép rằng:

Ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tý, tức là ngày 18 - 4 - 1288, sau chiến thắng Bạch Đằng, triều thần đem các tướng Nguyên bị bắt đến Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông) để làm lễ dâng thắng trận. Tại đây, vua Trần Nhân Tông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn đất mà trước đó, giặc Nguyên phá Chiêu Lăng, định đập bỏ mà chưa kịp, tức cảnh đọc hai câu.

 

 

Lời rằng:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

Dịch nghĩa:

Trên nền xã tắc, hai lần ngựa đá phải mệt nhọc,

Nhưng núi sông nghìn đời được đặt vững âu vàng.

Một trăm mười tám năm sau (1406), Hoàng đế nhà Minh là Minh Thành Tổ kê ra 20 tội(1) của Lê Quý Ly; sai tướng Trương Phụ và Mộc Thạnh đem 80 vạn quân, lấy cớ "Phù Trần diệt Hồ" sang đánh nước ta. Cha con Hồ Quý Ly và tướng lĩnh thân tín bị bắt và bị giết. Nước Đại Ngu của nhà Hồ đổi thành quận Giao Chỉ. Sau khi lấy được Hóa Châu, Trương Phụ chia đất Giao Chỉ(2) thành 5 châu (châu Trường Yên gồm 4 huyện: Uy Viễn, Yên Mô, Yên Ninh và Lê Bình thuộc phủ Kiến Bình), 15 phủ, 36 huyện, giao cho Lữ Nghị, Hoàng Phúc và Hoàng Trung coi trị. Một mặt, cho Mộc Thạnh đem một bộ phận quân về nước để chống quân nổi dậy của bộ tộc Bắc Nguyên; mặt khác lấy kế sách dùng người An Nam trị người An Nam, vỗ về Đặng Tất phong cho làm Đại tri Hóa Châu. Người Minh lại yết bảng bắt những người tôn thất nhà Trần đem về Trung Quốc.

Trần Ngỗi, con thứ của Trần Nghệ Tông (1370 - 1372) phải lánh nạn sang Lão Qua (Lào). Vốn không chịu kiếp nô lệ, người Đại Việt nổi lên khắp nơi chống lại nhà Minh. Trần Triệu Cơ khởi binh ở đất Mô Độ, đón Trần Ngỗi từ Lão Qua về Trường Yên và tôn làm vua, kêu gọi muôn dân cùng hợp sức khôi phục nhà Trần. Ngày 1 tháng 11 năm 1407, tức ngày 2 tháng 10 năm Đinh Hợi, Trần Ngỗi lên ngôi, xưng là Giản Định đế, lập hành cung ở Mô Độ (Yên Mô), phủ Trường Yên

 

------------------

1. Minh thực lục, tr.187-188.

2. Minh thực lục, tr.211 – 213.

(tỉnh Ninh Bình ngày nay). Toàn thư chép: “Năm 1407, tháng 10 ngày mồng 2, Giản Định đế lên ngôi ở Mô Độ châu Trường Yên, niên hiệu Hưng Khánh(1).

Tháng 4 cùng năm, quân Minh đánh vào Hành dinh Mô Độ. Quân ít, lực yếu, trước thế giặc mạnh, Giản Định đế phải lui quân vào đất Nghệ An(2) để chờ thời.

Bấy giờ, Đặng Tất đang ở Hóa Châu, nghe tin Giản Định đế đứng lên khởi nghĩa bèn đem quân đánh quân Minh ở Hóa Châu rồi kéo quân ra Nghệ An xin theo. Giản Định đế mừng lắm, phong cho Đặng Tất làm Quốc công, cùng nhau mưu tính việc khôi phục.

Để thắt chặt hai nhà, Đặng Tất đem con gái là Đặng Thị Thúy Hạnh dâng vua làm Hậu Phi. Nhiều cựu thần, tướng lĩnh của hai triều Trần, Hồ tìm vào Nghệ An xin theo như Phạm Chấn, Trần Ngạn Chiêu, Nguyễn Cảnh Chân... Sau khi giải phóng được một vùng rộng lớn, quân của Giản Định đế ra sức dưỡng binh, tuyển quân, trữ lương, rèn khí cụ, đóng chiến thuyền… Cuối năm 1407, thế lực của Giản Định đế đã khá mạnh.

Đầu năm 1408, Đặng Tất đem quân đánh lấy được thành Nghệ An và Diễn Châu. Tháng 4 năm ấy, theo lệnh của Minh Thành Tổ, Trương Phụ phải đem quân về bản quốc. Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân đem quân đánh lấy Tân Bình, truy bắt tàn quân, giải phóng Hóa Châu, Diễn Châu, Thanh Hóa, đánh lấy Bình Than, Tam Giang (Phú Thọ), vây hãm Đông Quan (Thăng Long - Hà Nội).

Tướng nhà Minh là Lữ Nghị, Hoàng Phúc, Hoàng Trung cố thủ ở thành Đông Quan cầm cự, cầu viện binh. Mộc Thạnh và Lưu Tuấn đem 5 vạn quân trở lại Đại Việt hội với quân Đông Quan. Tướng Minh là Lữ Nghị và Mộc Thạnh đem mười vạn(3) quân bình định đất phương Nam, chia hai đường thủy – bộ đánh Giản Định đế. Đường bộ, bộ binh và kị binh theo đường Thiên Lý đến đóng ở bờ bắc sông Đáy (khu vực Ý Yên), mưu bắc cầu vượt sông, đánh sang hữu ngạn; đường thủy, chiến thuyền theo sông Cái (sông Hồng), qua sông Châu Giang của Lý Nhân, Thanh Liêm vào sông Đáy hội với quân bộ ở bến Bô Cô (hay Bồ Cô). Đại Việt sử Kí toàn thư chép: “Tháng 12 ngày 14, Quốc công Đặng Tất điều quân các lộ Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa đánh Đông Đô. Khi quân đi qua xứ Trường Yên, Phúc Thành, các quan thuộc cũ và các nhà hào kiệt không ai không hưởng ứng đi theo. Tất chọn những người có tài đều trao cho quan chức” (tr.341).

Tháng 12 ngày 14, Quốc công Đặng Tất cả phá quân Minh ở Bô Cô hãn.

 

-------------

1. Toàn thư, tập 2, tr.233.

2. Định là quan cũ của họ Trần… y cùng Trần Hy Cát bỏ trốn, cùng với ngụy quan đất Hóa Châu là bọn Đặng Tất, Nguyễn Súy mưu nổi loạn. Bọ chúng suy tôn Định làm vua, tiếm xưng kỉ nguyên Hưng Khánh, hoạt động tại các vùng núi Hoa Châu và Nghệ An, chế tạo vũ khí, chiêu tập đồ đảng”. Minh thực lục, Nxb Hà Nội, tr.260.

(3). GS Phan Đại Doãn, Đại học tổng hợp Hà Nội, “Tam Điệp - Mấy dòng sử biên niên”, Tam Điệp - Di tích và danh thắng, Phòng Văn hóa thông tin thị xã Tam Điệp - 1986, tr.89.

Bô Cô hãn là bến sông, eo đất sình lầy, lau sậy ngút ngàn nằm ven bờ sông Đáy, thuộc xã Bô Cô, sau đổi làm xã Hiếu Cổ, huyện Vọng Doanh (Phong Doanh), nay là thôn Hiếu Cổ (xóm Cầu Cổ), xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Đại Nam Nhất thống chí – Tỉnh Nam Định chép ở mục Cổ tích: “Bô Cô hãn (kè) ở xã Bô Cô, giáp ranh giới huyện Phong Doanh, là hạ lưu sông Thanh Quyết, tỉnh Ninh Bình”.

Bô Cô bấy giờ là bến đò ngang nối hai bờ sông Đáy (Thanh Quyết) tại xóm Cầu Cổ (nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) và xã Đại Phong (huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình), nay thuộc địa phận phường Thanh Bình, thành phố Ninh Bình. Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên của Nguyễn Tử Mẫn (1816 - 1901), phần Khảo sát địa lí huyện Yên Khánh, mục “Đò ngang”(1) chép: “Xã Đại Phong có một bến đò 2 bờ  thuộc địa phận sông Cầu Cổ” (sông Đáy - MĐH), Nguyễn Tử Mẫn gọi là “Bến Non Nước, ở huyện Yên Khánh đối ngạn với địa giới huyện Phong Doanh (nay là huyện Ý Yên - MĐH) của tỉnh Nam  Định(2)Cuối tháng 12 năm 1408, nghĩa quân Trần Quỹ đã khá mạnh mở chiến dịch lớn đánh địch ở Bô Cô thuộc vùng xóm Cầu Cổ, xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, bên bờ sông Đáy, đối ngạn với núi Non Nước, cách Tam Điệp khoảng 15km về phía bắc.(3)

Đại Việt sử kí toàn thư chép rằng: “Bấy giờ nhà Minh sai tổng binh Mộc Thạnh mang tước Kiềm quốc công, đeo ấn Chính Di tướng quân đem 5 vạn quân từ Vân Nam đến Bô Cô, vừa khi vua (Trần Ngỗi – MĐH) cũng từ Nghệ An tới, quân dung nghiêm chỉnh, gặp lúc nước triều lên gấp, gió thổi mạnh, sai các quân đóng cọc giữ và lên hai bên bờ đắp lũy, Thạnh cũng chia quân thủy, quân bộ cầm cự. Vua cầm dùi đánh trống, hạ lệnh, các quân thừa cơ xông ra đánh, từ giờ Tỵ  đến giờ Thân (khoảng 11 đến 16 giờ), quân Minh thua chạy, chém được Binh bộ thượng thư Lưu Tuấn, Đô ty Lữ Nghị, cùng quân mới quân cũ đến hơn 10 vạn tên. Chỉ một mình Mộc Thạnh chạy thớt, trốn về thành Cổ Lộng(5). Minh thực lục cũng chép: “Ngày hôm nay, quan Tổng binh Giao Chỉ Kiềm Quốc công Mộc Thạnh giao tranh với đầu đảng giặc Giao Chỉ là Giản Định, tại sông Sinh (Thanh) Quyết bị thua. Đô đốc Thiêm sự Lữ Nghị, Thượng thư Bộ Binh Lưu Tuấn, Tham chính ty Bố chính Giao Chỉ Lưu Dục đều chết(6).

Trận đánh diễn ra vào ngày 14 tháng 12 năm Mậu Tý, tức là ngày 30 tháng 2 năm 1408. Minh thực lục, Bản kỷ quyển IX chép: “Năm Mậu Tý, Hưng Khánh thứ 2 (Minh Vĩnh Lạc thứ 6) [1408], tháng Chạp ngày 14, Quốc công Đặng Tất phá được quân Minh ở kè Bô Cô [nay là xã Hiếu Cổ, huyện Phong Doanh, tỉnh nam Định]. …Vua cầm dùi đánh trống, khiên các quân thừa cơ xông ra đánh, từ

 

------------------

1. Nguyễn Mạnh Duân dịch, tài liệu đánh máy, tr.59, Thư viện tỉnh Ninh Bình.

2. 3. Nguyễn Mạnh Duân dịch, tài liệu đánh máy, Thư viện tỉnh Ninh Bình, tr.151.

5. Đại Việt sử kí toàn thư, tr.341.

6. Minh thực lục, Nxb Hà Nội, tr.270

giờ Tỵ đến giờ Thân, quân Minh thua chạy, chém được thượng thư bộ Binh Lưu Tuấn(1), Đô ty Lữ Nghị(2)”.

Sử sách cổ không ghi chép cụ thể, chi tiết, chỉ đại thể rằng số quân của nhà Hậu Trần gồm quân của 5 trấn từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa. Khi quân ra đến Tràng An, “người Tràng An theo rất đông”, “quân dung nghiêm chỉnh, dưới quyền chỉ huy của Quốc công Đặng Tất, có vua (Giản Định) thân chinh chỉ huy, tiến từ Tràng An đến Bô Cô và chạm trán quân Minh. Sách “Mười bốn vị Hoàng đế thời Trần” chép rằng: “Đặng Tất cùng với vua Giản Định điều quân từ các lộ Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa…tiến đánh Đông Đô. Nhân dân các vùng đều nô nức hưởng ứng ủng hộ rất đông đảo.(3)

Quân ta, vua Giản Định Đế và Quốc công Đặng Tất đem quân từ Nghệ An ra, quân thủy, cắm cọc nhọn dưới ở dưới nước, đắp lũy trên bờ suốt dọc sông Đáy, dùng thuyền nhỏ luồn trong lau sậy mà mai phục; quân bộ chốt chặn tại Thanh Liêm ở phía bắc, Hoa Lư (khu vực hoa Lư và thành phố Ninh Bình ngày nay) phía tây, Ý Yên ở phía đông, nhử quân Minh xuống bến Bô Cô. Quân Minh, tướng Mộc Thạnh chia ra thủy bộ để chống lại hai cánh quân Giản Định.

Sớm ngày 14 tháng Chạp năm Mậu Tý (1408), bấy giờ là nước triều cường, sông Đáy mênh mang sóng nước. Hai cánh quân thủy bộ của Mộc Thạnh và Lữ Nghị nhất loạt hò reo dậy đất, rầm rộ tiến vào Bô Cô. Bỗng từ trên núi Dục Thúy, Cánh Diều pháo lệnh quân ta bắn lên không dứt, cờ lệnh phất mạnh, lửa cháy khắp nơi. Những cột khói ngút trời, tiếng hò reo vang như sấm rền, cả vạn quân Nam Việt như từ dưới đất chui lên, vạch lau sậy, lớp lớp xông lên, nhằm quân Minh mà tả đột hữu xung, đầu giặc Minh rụng như sung. Từng đoàn kị binh của người Minh không sao chạy được, mặc cho nghĩa quân đâm chém. Cả tướng lẫn quân Minh nháo nhào trong đám cháy. Dưới sông, bấy giờ nước lên to, nước ngập bãi cọc, quân ta thuyền nhỏ, giả thua cắm đầu, ngược sông, tháo chạy, thuyền giặc hăm hở đuổi theo. Đến khi quân ta phản công, phục quân hai bên bờ đổ ra chặn đánh, tên bắn như mưa; thuyền nhẹ bấy giờ mới quay đầu đánh lại, thuyền giặc tiến thoái đều không thoát, quay đầu tháo chạy. Vừa khi nước rút, bãi  cọc nhô dần, chiến thuyền giặc cái thì mắc cạn, cái thì vỡ tan mà chìm. Quân giặc chết trôi nổi như lá rụng, máu nhuộm đỏ sông, gây nên cảnh tượng vừa hào hùng vừa kinh hãi hiếm thấy.

Vua Giản Định Đế mặc áo chiến bào, thân cầm dùi đánh trống, khích lệ tướng sĩ, thúc các cánh quân xông trận. Hai bên giao chiến từ giờ Tỵ (9 - 11 giờ) đến giờ

--------------

1. Lưu Tuấn người Giang Lăng, Hồ Quản, đậu Tiến sĩ năm Ất Sửu thời Hồng Vũ, được bổ nhiệm chức Chủ sự bộ Binh, thăng đến tả Thị lang, đời Thái Tông thăng hàm Thượng thư, tham mưu quân vụ cho Thạnh; Thạnh bại, Lưu Tuấn bị vây, bèn thắt cổ tự tử. (Minh thực lục, Nxb Hà Nội, tập 2, tr.236).

2. Lữ Nghị người Hạng Thành, Hà Nam, năm Vĩnh Lạc thứ 3 (1405) làm Đô đốc Thiêm sự rồi Đô Giao Chỉ (Minh thực lục, Nxb Hà Nội, tập 2, tr.236).

3. Mười bốn vị Hoàng đế thời Trần, tr.143. (Tái bản lần thứ 7, có chỉnh lý), Sở Văn hóa thông tin Nam Định – 2008.

Thân (15 - 17 giờ), chỉ chưa đầy một ngày, quân Minh đại bại. Toàn thư, Bản kỉ quyển IX chép: “Năm Mậu Tý, Hưng Khánh thứ 2 (Minh Vĩnh Lạc thứ 6) [1408], tháng chạp ngày 14, Quốc công Đặng Tất phá được quân Minh ở kè Bô Cô [nay là xã Hiếu Cổ, huyện Phong Doanh, tỉnh Nam Định]… vua cầm dùi đánh trống, khiến các quân thừa cơ xông ra đánh, từ giờ Tý đến giờ Thân, quân Minh thua chạy, chém được Thượng thư bộ Binh Lưu Tuấn, Đô ty Lữ Nghị(1). Đại Việt sử ký toàn thư chép là 10 vạn. “Đại Việt sử kí tiền biêncủa Ngô Thì Sỹ cũng chép rằng: có trên 10 vạn quân Minh tham chiến, gần như toàn bộ bị giết và tan vỡ chạy. Việt sử tiêu án chép: “Quân đi qua Phúc Thành (nay là Phúc Am) gặp Tổng binh Mộc Thạnh của Minh ở Vân Nam đi đến, vừa đến Bô Cô, gặp khi thủy triều to, gió lớn, cho quân giữ các cây cắm sẵn, đắp lũy cả hai bờ sông. Thạnh cũng chia quân thủy và bộ ra giữ nhau, vua Giản Định cầm dùi đánh trống cho quân tiến, quân Minh thua chạy, Mộc Thạnh chỉ còn một thân thoát chết, chạy vào Cổ Lộng(2).

Đời sau, Bảng nhãn Dĩnh Thành Hầu Lê Quế Đường - Quý Đôn vịnh rằng:

Bích ba nhật tẩy Trần Vương hận,

Thanh thảo nan già Mộc Thạch tu.

(Sóng biếc rửa hận cho vua Trần,

Cỏ xanh khó che cái xấu hổ của Mộc Thạch).

Dịch thơ:

Uất hận vua Trần, sông tẩy sạch,

Mặt dầy Mộc Thạch cỏ che không?

Sử sách Việt Nam ghi nhận quân Hậu Trần chém được Binh bộ thượng thư là Lưu Tuấn, Đô ty Lã Nghị và Tham chính ty Bố Chính Giao Chỉ là Lưu Dục. Sử Trung Quốc phải thừa nhận: Lưu Tuấn không phải tử trận mà đã thắt cổ tự vẫn trong lúc bị vây hãm. Không có tài liệu nào nói về thiệt hại của quân Hậu Trần.

Trước thời cơ lớn đó, Giản Định đế bảo các quan rằng: “Thừa thế chẻ tre, đuổi theo một mạch, khi sét đánh không kịp che tai, tiến đánh thành Đông Quan, tất phải phá được”. Nhưng Quốc công Đặng Tất thì do dự không quyết, quân Minh nhân đó mà cứu được Mộc Thạnh về, quân Trần bỏ lỡ cơ hội đánh chiếm thành Cổ Lộng và Đông Quan. Sau vì “… Nghe lời gièm pha của kẻ hoạn quan, một lúc giết

chết hai người bề tôi phò tá, tự mình chặt bỏ chân tay vây cánh, thì làm sao nên việc được(3), (sử thần Ngô Sỹ Liên). Tức giận vì cha bị chết oan mà Đặng Dung (con Đặng Tất) và Nguyễn Cảnh Dị (con Nguyễn Cảnh Chân) đem quân về Nghệ An theo Trần Quý Khoáng. Ngày 10 tháng 11 năm Vĩnh Lạc thứ 7 tức ngày 16 tháng 12 năm 1409, Giản Định đế cùng thân tín Trần Hy Cát, Nguyễn Nhữ Lệ,

-------------------

1. Toàn thư, Bản kỉ quyển IX, tập 2, tr.236.

2. Thành Cổ Lộng còn gọi là thành Cổ Xộng hay thành Cách, do người Minh đắp, nay thuộc xã Bình Cách (Yên Thọ), huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

3. Tháng 2 năm 1409, Trần Giản Định đóng quân ở Hoàng Giang (vùng Duy Tiên, Lý Nhân, tỉnh Hà Nam), Giản Định đế nghe tấu dèm của hoạn quan Nguyễn Quỹ và Nguyễn Mộng Trang bèn gọi hai người (Đặng Tất Tất và Nguyễn Cảnh Chân) đến rồi đem giết đi.

Nguyễn Yến bị Mộc Thạnh vây bắt ở sách Cát Lợi, huyện Mỹ Lương, châu Quảng Oai, nay là huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Sự nghiệp phục quốc đời Hậu Trần của hai ông vua thứ 13 nhà Trần là Trần Giản Định (Trần Ngỗi) và Trùng Quang đế (Trần Quý Khoáng) bởi thế mà tan vỡ.

Dù sự nghiệp phù Trần, phục nước không thành, nhưng Bô Cô vẫn là trận thắng giặc Minh lớn nhất, vang dội nhất. Âm vang hào khí Đông A của đại quân Hậu Trần (1407 - 1413) trong sự nghiệp đánh giặc ngoại xâm ở Bô Cô hãn, khiến đến nay (đã 610 năm) và mãi về sau, mỗi chúng ta, khi đi qua cung đường hai đầu cầu Non Nước ngày nay - bến Bô Cô, nơi chiến địa thuở nhà Hậu Trần (thế kỉ XIV), nhìn dòng Đáy bát ngát,  ngã ba Non Nước hiền hòa xuôi nam và xinh đẹp chảy hoài về biển “Mà nhục quân thù không rửa nổi(1) vẫn thấy trong lòng mình dâng dậy hào khí Bạch Đằng(2) thuở nào ở Bô Cô - Non Nước để ta mãi mãi quý trọng và tự hào đất nước cha ông.

Vâng! Nước Đại Việt “vững âu vàng”.

Muôn đời:

Uất hận vua Trần, sông tẩy sạch

 Mặt dầy Mộc Thạnh cỏ che không?”

                         (Lê Quý Đôn)

 

Mai Đức Hạnh

Tháng 11 năm Đinh Dậu (2017)

Văn nghệ Ninh Bình

Số 173 (12/2017), tr.64 – 68.