JA Teline V - шаблон joomla Форекс

Sidebar

30
Fri, Jul
0 New Articles

ĐÌNH CÁC – VĂN LÂM BẾN SÔNG QUÊ

LỊCH SỬ- ĐẤT VÀ NGƯỜI
Typography

ĐÌNH CÁC – VĂN LÂM

BẾN SÔNG QUÊ

 

Tam Cốc (ba hang) nằm trong khu danh thắng Tam Cốc – Bích Động nổi tiếng xưa và nay, một trong 21 khu du lịch quốc gia, được ví như một Hạ Long cạn của Ninh Bình. Người xưa đã có lời rằng:

 

Đư­ờng vào Tam Cốc đâu xa,

Non xanh n­ước biếc bao la trập trùng.

Lô nhô non nư­ớc mông lung,

Cảnh tiên sa xuống một vùng Hạ Long.

                                                   (Ca dao Ninh Bình)

Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất Vũ Lâm này núi, sông, hang động đẹp như cổ tích. Các vua Trần lập Thái Vi từ đất sụt, sình lầy "rừng Ô Lâm"(1) thành đất linh, sơn thủy hữu tình, vang mãi khúc hùng ca “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu(2) (Xã tắc hai phen chồn ngựa đá/ Non sông ngàn thuở vững âu vàng), tụ hội khí thiêng, khởi phát Trúc Lâm thiền, hợp thành tam giác: Thái Vi – Yên Tử – Tức Mặc linh ứng bây giờ.

Ất Mùi (2015) xuân đến rồi, tôi thẫn thờ trở lại Tam Cốc – đất Ô Lâm xưa. Nắng xuân trong veo. Làn sương phảng phất, mỏng tang, giăng giăng lưng chừng núi. Thiếu nữ đôi mươi, mười tám du xuân, má căng hồng, mắt lúng liếng ngắm nhìn trời mây, sông núi như rạo rực, say mê.

Đây chăng, Đình Các – bến Văn Lâm?

Phải! Đình của 4 giáp, tổng Vũ Lâm xưa. Đình là đình Đại Các (đình lớn). Bởi mỗi khi các quan vào chầu ở Điện Thái Vi, tất phải trình ở đình, có phép vua, quan mới được vào chầu. Qua đình là núi. Núi đứng thành hàng như quân cấm vệ uy nghiêm, dân gian gọi là núi Cửa Quan. Đổi mới, dân gọi chệch đi là Cửa Quen như bây giờ.

Đình là đình cổ, có từ khi lập làng (TKXIII), bấy giờ gọi là Hành Cung, nơi sinh hoạt cộng đồng của bốn giáp: Tuân Cáo (nơi trình báo, báo cáo xin ý kiến), Hạ Trạo (nơi dừng thuyền), Khả Lương (nơi chứa, cất lương thực) nay thuộc xã Ninh Thắng và Văn Lâm, nay thuộc xã Ninh Hải. Bia Đại Các đình thạch bi tạo năm Giáp Tý (1864) niên hiệu Tự Đức 17 chép: Xã ta mạch đất chung đúc tinh anh, có tiếng văn học. Từ trước xã được chia thành 4 giáp, cùng phụng thờ một toà

-------------

1. Rừng Ô Lâm (rừng quạ), thuộc tổng Vũ Lâm xưa, ngày nay thuộc thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. 

2. Ngày 17 tháng 3 năm Mậu Tí (18-4-1288), sau chiến thắng Bạch Đằng, triều đình đem các tướng giặc bị bắt làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng (lăng vua Trần Thái Tông). Tại đây, vua Trần Nhân Tông trông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn (vì trước đó giặc Nguyên đã phá Chiêu Lăng và định đập bỏ ngựa đi mà chưa kịp), tức cảnh ngâm hai câu thơ này. Đầu đề là của những người làm sách về sau đặt. (Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập II), NXB Khoa học xã hội, 1988).

chính điện Hoàng đế Trần triều. Riêng giáp Đại Các ta và Hạt Giáp trước có ngôi đình 5 gian thờ vọng (Hoàng đế triều Trần), trải gió mưa, cột nghiêng ngói vỡ. Năm Thiệu Trị 2 (1842) và năm Tự đức 7 (1854) các bậc tiền nhân đã mấy lần sửa chữa. Nay vị trùm trưởng và mọi người ấp ta nối theo tiền nhân, phân công nhau trùng tu, từ tháng 9 năm Tự đức thứ 15 (1862) đến tháng 11 thì hoàn thành, bèn dựng bia lưu truyền.

Xét theo sử sách, đình có thể được làm vào khoảng cuối đời Trần Thái Tông (sau 1258). Bốn giáp của tổng Văn Lâm cùng “phụng thờ một toà chính điện” (tức Điện Thái Vi). Đình Các thờ Thành hoàng là Hoàng đế Trần triều (thờ vọng) tức Trần Thái Tông (Trần Thừa), người có công lập Hành cung Vũ Lâm, tổ chức khai hoang lập làng Văn Lâm.

Đình Các 5 gian, lợp ngói mũi hài, mái cong đầu đao. Cửa đình nhìn theo hướng tây nam. Trước sân lát gạch thất đỏ, hai cây đa cổ thụ ở hai góc sân, chính giữa có trụ cờ. Qua cửa đình thì vào bến thuyền Văn Lâm, điểm khởi đầu danh thắng Tam Cốc (bằng đường thuỷ), Bích Động theo hướng tây, Thái Vi từ theo hướng đông bắc (bằng đường bộ). Đình Các là một “dịch trạm” không chỉ của tổng (Văn Lâm) mà còn được coi là trạm kiểm soát tiền tiêu của Điện Thái Vi, khu trung tâm căn cứ kháng chiến chống Nguyên Mông của nhà Trần thế kỉ XIII ở Ninh Bình.

Phía tây bắc Đình Các, dưới tán của cây đa cổ thụ, cách bến thuyền Văn Lâm khoảng 20 mét về phía đông bắc là ngôi miếu thờ Tổ nghề thêu ren Lê Công Hành, ba gian, mái lợp ngói nam, bốn góc đầu đao, trên có “lưỡng long triều nguyệt” (rồng chầu mặt trời), cửa nhìn về hướng đông nam (Đình Các). Hai cột đá phía trước có đôi câu đối: "Mỹ nghệ hoa văn truyền hậu thế; Tài hoa cẩm tú ngưỡng tiên sinh".

Trong số các nghề truyền thống của Ninh Bình, đến với Ninh Hải, thăm Tam Cốc - Bích Động người ta thường nói đến nghề thêu ren của làng Văn Lâm. Từ lâu, người dân Văn Lâm đã từng lưu truyền rằng bà Trần Thị Dung, Hoàng hậu triều Lý Huệ Tông (1211 - 1224), sau là vợ của Thái sư Trần Thủ Độ truyền dạy nghề thêu ren cho người dân ở đây. Sau khi bà mất, nhân dân đã lập đền thờ bà ở động Thiên Hương, cách Thái Vi từ khoảng 300 mét, cách Đình Các – bến Văn Lâm chừng non cây số.

Lại tương truyền rằng: vào thế kỉ XVII, Tiến sĩ Bùi Công Hành (1606 – 1661), người xã Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) đã về quê truyền nghề thêu và làm lọng cho người dân Quất Động, Ngũ Xá và được coi là Tổ nghề thêu, sau ông đổi tên thành Trần Quốc Khái.

Truyền thuyết về ông tổ nghề thêu kể rằng: “Ông vốn họ Bùi, sau này vì có công với nhà Lê, trong cuộc kháng chiến chống Minh nên được ban quốc tính đổi thành họ Lê. Thiếu thời, tuy nhà nghèo nhưng thông minh, học giỏi và hiếu học. Năm 18 tuổi, Bùi Công Hành đi phu dịch đắp đê sông Hồng (đê Hồng Đức). Một lần sức yếu, không vác nổi tảng đất to, bị phạt, viên quan Thị Lang đi qua, thấy vậy hỏi biết là học trò, ông liền đọc: Ông quan Thị cắm đường cái tiêu, trị hồng thuỷ cho dân được cậy, rồi bảo Hành đối đi. Công Hành không chút chần chừ đối ngay: Trai làng Quýt thi đỗ bảng nhãn, phó quân vương phỉ chí mới cam”. Người ra đủ 4 loại quả, người đối cũng đủ bốn loại quả, lại bộc lộ được chí khí lớn. Quan Thị gật đầu khen ngợi rồi tha cho. Cuối đời Trần, ông đi ứng thi, cũng là lúc giặc Minh xâm lược nên lỡ dở, sau theo Lê Lợi, làm cuộc “Bình Ngô”. Đời Lê Thần Tông (1637), Trần Quốc Khái thi đậu Hoàng Giáp, làm quan đến chức Tả thị lang bộ Công, tước Thọ phúc hầu, được đi sứ nhà Minh. Vì có công, vua ban cho mang họ Lê, đổi gọi Lê Công Hành.

Đến đời Lê Thái Tông, Lê Công Hành dẫn đầu đoàn sứ nước Việt sang nhà Minh. Vì khẳng khái giữ khí tiết nước Nam, không chịu khom lưng quỳ gối, vua Minh giận lắm, lại muốn thử trí thông minh sứ thần nhà Lê, bèn cho dựng một lầu cao chót vót rồi mời ông lên chơi. Khi ông lên đến lầu, vua Minh bèn sai người rút thang. Không còn lối xuống, ông đành ở trên lầu một mình. Trên Lầu chỉ có hai pho tượng sơn son thiếp vàng, một chum nước, một cái lọng cắm trước bàn thờ. Ngoài cửa lầu treo một bức nghi môn thêu nổi ba chữ: “Phật tại tâm”. Ngày trôi đi, lầu vắng, bụng đói, ông nghĩ: có nước uống (chum nước), chắc phải có cái ăn; nghi môn lại đề “Phật tại tâm” nghĩa là Phật ở trong lòng. Ông mỉm cười rồi bẻ tay pho tượng ăn thử. Thì ra pho tượng làm bằng bột chè lam. Có nước uống, bánh ăn, hàng ngày ông quan sát kĩ cách làm lọng, tháo nghi môn xem cách làm thêu, tất đều nhập tâm. Nhờ cách ấy, ông biến lọng thành “dù” mà nhảy xuống đất an toàn. Vua Minh khâm phục lắm. Khi về nước, ông đem dạy dân cách làm lọng, làm thêu ở Quất Động, Tam Xá, Vũ Lăng, rồi lan ra cả nước. 

Nghề thêu ren của Văn Lâm, nghề trồng dâu nuôi tằm ở Ninh Giang, Ninh Khang, Ninh Mỹ (Hoa Lư) và thị xã Tam Điệp ngày nay có sự liên hệ mang mầu sắc văn hóa của vùng ven kinh đô Đại Việt. Văn Lâm là một trong số cái nôi của nghề thêu ren truyền thống và nổi danh của vùng đồng bằng Bắc Bộ, cả ở trong và ngoài nước. Hàng năm, cứ vào ngày 20 tháng giêng, người dân Văn Lâm lại mở hội đền Thái Vi. Đền thờ Tổ nghề thêu ren Trần Thị Dung và Lê Công Hành cũng là một phần nằm trong hoạt động lễ hội ấy. Ngày hội về, Đình Các, bến Văn Lâm trở nên nhộn nhịp hơn ngày thường.

Bến Văn Lâm là bến sông “xưa” mà ta thường gặp trong ca dao với cây đa, bến nước, sân đình. Cây đa ở phía đông bắc, sân đình (Đình Các) ở phía đông. Văn Lâm là tên thôn cũng là tên gọi của bến thuyền, dài cả trăm mét suốt đông bắc đến tây nam, từ đền thờ Tổ nghề thêu Lê Công Hành đến đường vào làng thêu ren Văn Lâm, Ninh Hải.

Bến sông này vốn là một hồ nước của sông Ngô Đồng. Lâu dần, đất bồi lắng, hồ thành đầm, thành vụng bạt ngàn lau sậy suốt từ cửa đình Các ở phía đông đến xóm Lò Vôi ở phía tây. Phía tây nam là đường vào làng thêu ren Văn Lâm, phía đông bắc là núi Cửa Quen cùng bao lấy vụng nước này.

Khi du lịch phát triển, Tam Cốc - Bích Động thành khu danh thắng, cái vụng nước đầy lau sậy thành bến thuyền. Bến thuyền xưa là bến nước như vốn có (bến ao, bến sông), dần được gạch, đá và xi măng hoá mà “lên đời” để đón khách du lịch trong và ngoài nước.

Rừng Ngô Đồng ngút ngát chạy suốt hai bờ sông Ngô Khê xưa, nay chỉ còn dấu ấn ở tên con sông quê, “sông Ngô Đồng”. Bến sông quê thành bậc cong như vành trăng non, chạy suốt từ đông bắc sang tây nam, rộng và thoáng, nước sông trong và xanh.

“Đò” xưa của những năm 80, thế kỉ XX đan bằng tre. Tre nhà, tre làng Văn Lâm, Vũ Lâm, tre đồi Yên Mô, Tam Điệp, sảm sắn rừng Nho Quan, mang cái chất quê mộc mạc, giản dị và gần gụi, khỏe và đằm, mang vác khó khăn, chèo chống nặng nề, bây giờ vắng bóng. Nay đi khách, đò được “tôn hoá” cho gọn nhẹ, tuy kém đi cái phần chân quê của ngày nào nhưng được cái di chuyển nhanh, chèo một nhát, đò lướt trên mặt nước nhẹ nhàng. Chỉ có nước sông trong và xanh như da trời thì vẫn vậy.

Người "đi đò" hôm nay vẫn là người “lái đò” chân chỉ của vùng quê Văn Lâm, Vũ Lâm yên tĩnh và thanh bình ngày xưa. Trong mỗi con người chân quê ấy vẫn ẩn tiềm một nội lực “Đông A” sung mãn, sẵn sàng đối mặt với mọi gian nguy như năm nào, khoan nhặt mái chèo đưa con đò lướt trên mặt sông Ngô Đồng uốn lượn, nụ cười tươi như hoa mỗi khi nói về con sông, ngọn núi, cung thờ của quê hương mình. Bởi quê mình đây là đất của Nam thiên đệ nhị…(Bích Động), là người của “hậu cứ” các vua Trần, vẫn ngan ngát hương trầm linh thiêng.

Đời sống ngày càng khá giả, con người đã biết cách làm để đủ cái ăn, đủ cái mặc, giờ cũng là lúc bắt đầu biết và cần đến cái “chơi”. Chơi có “ăn chơi”, “ngồi chơi” rồi “đi chơi”. Có đủ “ăn chơi”, “ngồi chơi” rồi thì cần “đi chơi” để vui chơi, để khám phá, thư giãn sau những ngày lao động, “xả” cái mệt mỏi, nạp thêm “năng lượng” cho sức lao động, để cho những ngày lao động sau đó hiệu quả hơn. Nó là cả một quy trình khép kín mà mỗi cung đoạn của làm - ăn - ngồi - đi vừa là nguyên nhân vừa là kết quả, tạo nên “hiệu suất” của "làm" trong suốt vòng đời người. Cái khác nhau giữa bạn và tôi, tôi và người ta là ở chỗ mỗi chúng ta hành xử với chúng như thế nào cho hợp với hoàn cảnh của bản thân mình, thích ứng với môi trường xã hội, tự nâng mình lên và góp tay đổi mới đời sống xã hội, để cuộc sống đáng yêu và cuộc đời đáng sống. Người dân Văn Lâm, Vũ Lâm đón cái nhu cầu "được chơi hữu ích cho mỗi người và mọi người" ấy mà kiếm sống, làm giàu, phát triển và đi lên.

Con người “khách thể” mà chúng ta quen gọi là khách du lịch đến với Văn Lâm có “ta” (người Việt), “tây” (khách nước ngoài). Khách tây là khách ưa khám phá những vùng đất lạ, đi “đò” có “boa”, boa nhiều; khách ta mới gần đây mới biết đi chơi là để vui, để thư giãn, (thường thì) không “boa”, có cũng không nhiều. Khách “tây” đi du lịch thường hay mua hàng kỉ niệm cho mỗi chuyến đi, bởi với họ, có thể có lần này mà không có lần sau nữa. Còn “ta” thì “năm thì mười hoạ” (không hẳn vì “ta” không có tiền). Ta mua cái gì cần mua, hớp với lối của ta; lần sau trở lại, ta mua cái ta chưa có.

Ban đầu, Văn Lâm này có khoảng 400 “đò”, nan có, gỗ có và tôn cũng có. Nay Văn Lâm đã có đến 1080 “đò”, tương ứng với 1080 gia đình của xã Ninh Hải (liệu có còn tăng lên hay giảm? cái gì cũng có thể). Mỗi đò được gắn với một “số đò”. Có “số đò” mới được đi đò, chở khách. “Số đò” được phân phối (mỗi nhà chỉ được 1 số), để tính lượt đò đi. Lượt đi đò tỷ lệ với thu nhập, tỷ lệ với mức sống của dân mình, nhất là "cái sự công bằng" của đời sống. Thế là 1080 cái đò của 1080 gia đình lại phải chờ lượt. Hết lượt “đi ta”, đến lượt “đi tây”. Ấy vậy là, cái “tuỳ nghi” của kiểu sản xuất nhỏ nông dân “ngày xưa” được thay vì bằng sự “điều hành công nghiêp” của nền kinh tế mới mở nhằm đảm bảo công bằng xã hội, tính nhân văn con người.

Người lái đò vừa là người nhà đò, chèo thuyền chở khách vừa là hướng dẫn viên du lịch không chuyên. Họ không chỉ nói sõi tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt), cần phải có vốn tiếng “tây” nữa (tây bồi cũng được) để giới thiệu với khách về quê hương của mình và để giao dịch làm ăn. Cái “anh tây” đi du lịch, thấy dân “bản địa” nói “tiếng” của mình, dù biết là “tây bồi” nhưng cũng thích lắm, cũng vui lắm. Cũng có khi, đó lại là một “thứ văn hoá” mới mẻ, sáng tạo, hữu ích mà chưa một ai để tâm khảo cứu, khen chê.

Vậy là, bến sông quê xưa không còn yên ả, vi vút tiếng sáo, cánh diều chiều quê, xôn xao sóng nước, xào xạc lau lách như nó vốn có nữa. Nó chỉ yên ả khi chiều đến, đêm về. Nó ồn ào, hối hả mỗi khi mùa du lịch đến. Nhịp chèo của nhà đò cũng “khoan”, “nhặt” theo cái nhịp ấy của đời sống.

Nói là mùa nhưng không phải là bốn mùa: xuân - hạ - thu - đông của năm. Cũng không phải “sáu tháng trông cây” mùa vụ lúa nước.  Nó tất bật vào những ngày cuối tuần và ngày “nghỉ lễ”; nhịp khoan thai khi đã vào tuần mới đến hoặc “ngày dưng” theo nhịp sống và làm việc của con người. Nhịp sống ấy chính là quy luật “kinh tế du lịch”, và sinh hoạt “văn hoá cộng đồng” của bến thuyền Văn Lâm này. Bến thuyền Văn Lâm nay là thế! Nó gắn bó với đời sống con người tổng Vũ Lâm xưa - Ninh Hải bây giờ mà tồn tại và đi lên.

Ở bến Văn Lâm luôn có hơn 1000 chiếc thuyền của hơn một nghìn gia đình phục vụ khách du lịch. Đây là “nghề tay trái” nhưng lại cho thu nhập đều đều và đáng kể, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, thay đổi cả lối sống xã hội của người dân.

Đối diện với bến thuyền Văn Lâm là làng cổ Cố Viên Lầu. Gọi là làng cổ nhưng thực ra, Cố Viên Lầu mới được xây dựng theo kiến trúc nhà Việt cổ trên một khu đất dưới chân núi Cửa Quen, cách bến thuyền khoảng hơn 50 mét.

Bờ bên kia, vào những năm 80 của thế kỉ XX, người dân của xóm lấy việc khai thác đá trên núi đốt vôi làm kế sinh nhai mà thành tên gọi: "xóm Lò Vôi". Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động ra đời, lò vôi bị vứt bỏ, duy cái tên xóm thì còn truyền trong dân gian cho đến bây giờ. Dấu tích còn lại của thời kì “định lượng” ấy là ngọn núi nhỏ nhô lên phía sau Cố Viên Lầu. Vào làng Việt cổ và xóm Lò Vôi bằng đường bộ theo đường ven hồ dưới chân núi Cửa Quen ở phía đông bắc, qua Cố Viên Lầu, cống Đồng Lở (cống ngăn lũ) để vào xóm Lò Vôi và  đường thủy từ bến thuyền theo đường sông Ngô Khê chỉ chừng hơn 200 mét.

Ở xóm Lò Vôi nhìn về phía đông bắc là khu Gò Mả và xóm Cây Gạo. Qua cống ngăn lũ, phía trước là một dãy núi cao chừng hơn trăm mét, dân Văn Lâm gọi là núi vụng Cây Gạo. Vụng Gạo là vụng nước dưới chân núi, xưa có nhiều cây gạo to ven chân núi (nay không còn). Những cây gạo ấy thành tên núi, tên vụng nước ven sông. Xóm ở ven chân núi cũng được mang tên cây - xóm Cây Gạo. Qua xóm Cây Gạo, đối ngạn với núi Cửa Quen là núi Hàm Phổng, vách dựng đứng. Núi Cửa Quen ở phía đông, núi Hàm Phỏng ở phía tây, sông Ngô Khê chảy sát vào chân hai dãy núi thành cái “kẽm” (khe nhỏ) hút gió, gió thổi rất mạnh, thuyền đi ngược gió, gió lớn, tức ngực, khó thở, "thở đốc" cả mũi lẫn miệng. Thế là khe gió mạnh ấy thành tên khe Hàm Phổng. Ra khỏi khe Hàm Phổng chừng 700 mét thì đến cống Rồng, nối hai bờ Ngô Đồng để vào Am Thái Vi, nơi các vua Trần tu hành.

Vượt qua cái cống này, là chân trời của Ngô Khê "ngày xửa ngày xưa" xanh thẳm. Từ đây, đò lướt nhẹ trên sông Ngô Đồng qua Bến Thánh vào Tam Cốc (ba hang), khiến lòng ta bâng khuâng, xao xuyến:

Lòng ta gửi bến sông quê,

Đò qua Tam Cốc, người về cố hương.

 

Mai Đức Hạnh

Văn nghệ Ninh Bình

Số 152 (3/2016), tr.60 – 65.