JA Teline V - шаблон joomla Форекс

Sidebar

30
Fri, Jul
0 New Articles

LÃO LA ĐẠI THẦN - NINH HỮU HƯNG

LỊCH SỬ- ĐẤT VÀ NGƯỜI
Typography

 

LÃO LA ĐẠI THẦN - NINH HỮU HƯNG

 

Nhân dịp kỉ niệm 1060 năm (939 - 2019) ngày sinh;

1000 năm (1019 - 2019) ngày mất.

 

Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi Hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng “…chọn chỗ đất phẳng ở Đàm thôn, muốn dựng làm kinh đô, nhưng vì thế đất chật hẹp, lại thấy không có lợi về sự đặt hiểm, nên lại đóng đô ở Hoa Lư (nay là phủ Trường Yên)(1). Nghe theo quan đại thần Định quốc công Nguyễn Bặc, Vua bèn chọn Hoa Lư, một thung lũng lớn bằng phẳng, bao quanh là núi, lấy núi nối dựng làm thành; có sông nhỏ trước, sông lớn phía sau, lấy sông làm hào; tiến có thể công bằng hai đường thủy (sông Đại Hoàng - Hoàng Long) ở phía bắc, bộ ở phía đông (Thiên Tôn), lùi có dấu quân, luyện binh trong núi và thung lũng ở thành Nam, làm nơi định đô. Lại đem quân về phía tây thung lũng Hoa Lư nay là khu vực Sơn Lai, Nho Quan, Gia Sinh, Gia Viễn đóng quân, lấy Ninh Hữu Hưng, ban chức Công tượng lục phủ Giám sát Đại tướng quân” (Vị đại tướng trông coi nghề mộc của sáu phủ), giao phụ trách dân binh sáu phủ xây dựng kinh đô nước Đại Cồ Việt, mở nền Chính thống.

 

Lịch sử ghi nhận, Ninh Hữu Hưng là tướng của các triều Đinh (968 - 979), Tiền Lê (980 - 1009). Ông là người thành Nội, còn gọi là thành Tây, kinh đô Hoa Lư thế kỉ X, nay là thôn Chi Phong, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Gia phả họ Ninh ở Ninh Xá, La Xuyên (xã Yên Ninh, huyện Ý Yên), thôn Côi Trì (xã Yên Mỹ), thôn Trung Đồng (xã Yên Nhân), huyện Yên Mô đều khẳng định điều đó.

Theo Ngọc phả(2) đình Ninh Xá, đình La Xuyên, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, Ninh Hữu Hưng sinh năm 939, mất ngày 6 tháng 4 năm Kỷ Mùi (1019), niên hiệu Thuận Thiên, triều vua Lý Thái Tổ (1225 - 1258). Một số tài liệu cho rằng, Ninh Hữu Hưng sinh năm 936(3).

Nối nghiệp nhà, ông am tường nghề mộc, ham học hỏi. Thần phả đình làng La Xuyên do Tiến sĩ Nguyễn Hoàn viết năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) cho biết “Sinh

 

-------------

1. Đại Việt sử kí toàn thư, tr.154.

2. Ngọc phả đình La Xuyên"Chí Lý Thái Tổ Thuận Thiên Kỷ Mùi niên tứ nguyệt lục nhật, công miên thọ dĩ cao, chí bát thập nhất tuế lão nhược quy thần" (Ngọc phả đình La Xuyên); "Thời đương Lý Thái Tổ, Thuận Thiên Kỷ Mùi niên tứ nguyệt sơ lục nhật, hưởng thọ bát thập nhất tuế" (Ngọc phả đình Ninh Xá Hạ).

3. Các tài liệu: noithatlaxuyen.com Ninh Hữu Hưng – Tổ nghề chạm, khảm gỗ các làng tỉnh Nam Định” (936 – 1020).

4. Ngọc phả miếu thờ Đức Vân Lôi Đại Thần, núi Phượng Sơn, thôn Liên Huy, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn.

thời Ninh Hữu Hưng đã học được bí kíp nghề mộc của vua Diêm La dưới địa phủnên rất tinh thông nghề xây dựng.

Truyền thuyết(1) kể rằng: Buổi ấy, ông cùng vợ đi thuyền dọc sông Hoàng Long ghé núi Phượng Sơn(2), tới miếu Vân Lôi Đại Thần tế lễ. Xong việc khi về nhà cơm nước rồi đi ngủ. Trong giấc chiêm bao, bỗng có một cụ già râu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc tự xưng là Vân Lôi Đại Thần bước vào trong cửa niềm nở chào hỏi rồi dẫn ông tới một cái hang to và sâu. Ở bên cửa hang có hai lực sĩ dẫn ông đi tiếp đến một nơi có lầu gác nguy nga, bạc vàng chói lọi. Lại một vị khác mặc áo bào xanh ra dẫn ông vào trong điện. Đây là tòa điện Kim Quang ở cõi Diêm La.

Thấy ông, Diêm Đế cất tiếng sang sảng hỏi:

- Trẫm nghe nhà ngươi ở cõi dương gian tinh thông nghề xây dựng nên mới cho tìm ngươi xuống đây giúp việc cho trẫm, chẳng hay ngươi nghĩ thế nào?

Ông tâu rằng:

-  Vạn tuế! Nếu kẻ hạ dân này được thánh thượng hạ cố thì đâu không dám hết lòng.

Thế rồi, ông được dẫn đến một gian nhà trong dãy xưởng và được giao công việc xây dựng cung điện. Tại đây có nhiều người giỏi nghề, ông chăm chú theo dõi học hỏi và cũng đem cách thức dựng nhà cửa của mình kết hợp.

Ít lâu sau, ông nhớ nhà bèn đến trước bệ tâu bày nỗi niềm xa cách quê hương xin trở lại Dương gian. Diêm đế đồng ý nhưng dặn ông không được tiết lộ chuyến đi này, nếu trái lời dặn sẽ bị trừng phạt.

Trước khi đưa ông về lại cõi Dương gian, Vân Lôi Đại Thần nói “Ta thấy ngươi là người nhân hậu, con cháu sẽ được hưởng phúc lâu dài. Sau  này, trong hậu duệ của ngươi, người nào có lòng tốt, tưởng nhớ đến công lao của ta, ta sẽ tiếp dẫn cho”.

Vừa khi đó, ông giật mình tỉnh giấc.

Nhớ ơn Đức Vân Lôi Đại Thần, hàng năm, ông vẫn  đến miếu của Đức ngài, lấy nước Lỗ Sôi(2) để dâng hương.

Tương truyền, năm 20 tuổi, Ninh Hữu Hưng gia nhập quân đội nhà Đinh tham gia dẹp 12 sứ quân. Sau khi thống nhất đất nước, lên ngôi Hoàng đế (968), Đinh Tiên Hoàng triệu ông ban chức, thi thố tài năng, coi quân dân 6 phủ xây dựng kinh đô Hoa Lư nhà Đinh năm ông 29 tuổi.

Nhà Tiền Lê thay nhà Đinh, sau khi đánh thắng quân Tống (980), bình Chiêm (982), năm Thiên Phúc thứ 5 (984), Hoàng đế Lê Đại Hành xây dựng kinh đô, sai Ninh Hữu Hưng   Dựng điện Bách Tuế,  Thiên Bảo ở núi Đại Vân,  cột điện đều trang sức bằng vàng, bạc, điện này dùng làm nơi thị triều, phía đông gọi là điện Phong Lưu, phía tây gọi là điện Tử Hoa, phía tả gọi là điện Bồng Lai, phía hữu gọi

---------------

1. Suối Kênh Gà, thôn Liên Huy, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn.

2. Đại Việt sử kí toàn thư, tập 3, tr.249. 

là điện Cực Lạc. Lại dựng lầu Đại Vân, liền với điện Trường Xuân làm nơi nghe tẩm, bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng lầu Long Lộc lợp ngói bằng bạc, lại dựng riêng điện Kiên Nguyên để vua ra chơi xem đèn(1), khiến kinh đô Hoa Lư càng thêm hoa lệ, rực rỡ.

Lan Khê Nguyễn Hoàn, Tiến sĩ triều Lê chép: “Tại Chi Phong xã hữu nhất nhân tính Ninh húy Hữu Hưng am tường mộc nghệ, kế tổ phụ gia truyền, đắc Diêm La chí bí thuật kinh dĩ phù Lê Đế quảng tạo Hoa Lư cung thất, tằng mông ban thưởng Lục phủ công tượng Giám sát đại tướng quân chức, công cao bổng hậu, hựu hữu võ lược phi phàm, đắc thượng tín trọng vi Thần vệ tướng quân nhiệm”, nghĩa là “lúc đó tại xã Chi  Phong có một người họ Ninh, tên là Hữu Hưng giỏi về nghề mộc do nối tiếp được nghề gia truyền của cha ông và học được bí thuật nơi địa phủ. Ông giúp cho vua Lê cất cung điện tại Hoa Lư, được vua ban cho chức Công tượng lục phủ Giám sát đại tướng quân, công cao lộc lớn. Ông lại có võ lược hơn người nên được vua tin dùng, thường làm nhiệm vụ Thân vệ tướng quân bảo vệ nhà vua(2). Là người có vũ dũng, ông được chọn vào đội quân Thiên cận đi bảo vệ nhà vua. Vua Lê Đại Hành  thường đi thăm nhiều nơi, Ninh Hữu Hưng luôn được chọn đi theo xa giá. Lần ấy, vua đi thuyền qua vùng đất Cái Nành(3) để kinh lý vùng đất phía nam kinh thành nay là khu vực các huyện Bình Lục, Vụ Bản, Ý Yên ngày nay. Ngày 24 tháng 4 (tức ngày 9 tháng 6) năm Tân Mão (991), khi qua sông Kim Ngân (nay là sông Sắt), đỗ thuyền ở Thiết Lâm, thuộc huyện Vọng Doanh, vua Lê Đại Hành lên bờ vào thăm đền thờ Lương Bình Vương và An Nhu Vương(9). Nhà vua thấy nơi đây thế đất rất đẹp, mà chỉ có lác đác dăm ba căn nhà bên sông, vài nơi thờ tự rêu phong che phủ bèn ban cho ông đất đai làm thực ấp. Ông bèn đưa con cháu, họ hàng từ Chi Phong, kinh đô Hoa Lư đến vùng đất mới, lập thành ấp lớn Thiết Lâm (rừng lim), dốc sức tu sửa đền và chùa, đặt gọi là Phúc Lê Tự, nghĩa là truyền ân lớn của Hoàng gia nhà Lê. Ông lại bỏ tiền chiêu dân, khuyến khích canh nông, hỗ trợ chế tác, phát triển nghề thủ công ở vùng đất trại La Ngạn. Những người dân về đây sống đều tự nguyện đổi sang họ Ninh nên vùng đất

người họ Ninh sinh sống gọi là Ninh Gia ấp(4). Nhớ ơn huệ của Diêm Vương, ông

 

---------------

1. Ngọc phả đình làng La Xuyên, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên.

2. Cái Nành là khu vực sinh sống của người họ Ninh. (“Nành” trong địa danh Cái Nành chính là chữ Ninh), nay là La Xuyên, Ninh Xá Thượng, Ninh Xá Hạ, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

3. Đình Ninh Xá (còn gọi là đền Voi Đá, Ngựa Đá bên bờ sông Kim Ngân, tức sông Sắt gần cầu Tào, thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định) thờ Lương Bình Vương, An Nhu Vương  (là các con vua Hùng về trấn trị vùng cửa biển Đại An). Năm 991, theo lệnh vua Lê Đại Hành,  thảo am được tu sửa  thành đền gọi là "đền nhà vua". Đến đời Lý (1010 - 1225), sau khi Ninh Hữu Hưng mất (1019), đền còn thờ “Lão La Đại Thần” - Ninh Hữu Hưng.

4. Trại La Ngạn - Ninh Gia ấp nay các làng nghề trạm khắc mỹ nghệ La Xuyên, Ninh Xá Hạ thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

(Ninh Hữu Hưng) sai người mở rộng nơi thờ, rước chân hương Diêm Đế từ núi Dục Thúy (Ninh Bình) về thờ chung cùng với hai vương ở La Tiền Điện.  

Một ngày kia, biết mệnh mình sắp hết, Ninh Hữu Hưng gọi con cháu đến chối lại lời Đức Vân Lôi Đại Thần, dặn dò con cháu... Nói xong, một luồng gió lạnh thổi đến làm ông mê man bất tỉnh mà mất. Bấy giờ là triều vua Lý Thái Tổ, năm Kỷ Mùi (1019), niên hiệu Thuận Thiên, tháng 4, ngày 6, hưởng thọ 81 tuổi. Con cháu đưa linh cữu ông xuống thuyền, chở về quê cũ (Chi Phong), an táng ở chân núi Xương Bồ(1), thôn Chi Phong, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư.

Sau khi ông mất, vua Lý Thái Tổ (1010 - 1028) ban cho ông tôn hiệu là “Lão La Đại Thần Tiên Sư”, thần vị  được phối thờ cùng Lương Bình Vương và An Nhu Vương (tại đền - đình Ninh Xá), ý coi là công thần của nước, đất Thiết Lâm cũng được đổi thành Ninh Xá với nghĩa là làng của người họ Ninh, nay là Ninh Xá Thượng, Ninh Xá Hạ, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên.

Người Yên Ninh đến nay còn truyền rằng:

Giai nhân con cháu Cái Nành

Dẫu không khoa bảng cũng thành nghệ nhân.

                                                 (Ca dao Nam Định)

Tam giáp đồng Tiến sĩ, khoa Tân Mùi, năm Hồng Thuận thứ 2 (1511) Tạ Đình Huy (1474 - 1542), người Hồng Khê, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam có thơ “Lão La Đại thần” như sau:

Sinh tại Chi Phong thúy lĩnh trung,

Gia truyền mộc tượng thế vô song.

Kiến đô lập quốc thiên đa xảo,

Khẩn thổ lân dân hữ đại công.

Giáo nghệ Tiên sư hương ấp ngưỡng,

Những thuần hậu thế tử tôn thông.

Bất như Phạm, Đỗ nhân tâm nghị,

Diêm đế lương thần vạn thế long.

Dịch thơ:

Lão La sinh ở đất Chi Phong,

Gia truyền thợ mộc giỏi vô song.

Dựng đô lập nước dâng nhiều mẹo,

-------------

1. Núi còn có tên gọi là Mang Sơn hay Mồng Mang, cao 222 mét, dân gian gọi là núi Bồ hoặc Bồ Bim trong hệ thống tường thành phía tây của Thành Nội (Chi Phong) kinh đô Hoa Lư, thế kỉ X gọi là Tường Bồ (Đặng Công Nga, “Kinh Đô Hoa Lư thời Đinh – Tiền Lê”, Sở Văn hóa thông tinh Ninh Bình, 2002, tr.131).

Người dân ở đây có câu:

Núi Bồ cao ngất tầng mây,

Hang Luồn nước chảy khi đầy khi vơi.

Chúng tôi đã khảo sát chung quanh núi và cánh đồng Bồ ở Chi Phong nhưng hiện chưa rõ ngôi mộ đó tại vị ở chỗ nào.

Khẩn đất thương dân cũng lắm công.

Thầy dạy dân làng chăm thủ nghệ,

Những khuyên con cháu nếp thuần phong.

Đừng như Phạm, Đỗ(1) đời chê trách,

Diêm Đế hiền thần chớ bảo không.

Các làng thuộc xã Yên Ninh đều lập đình, đền thờ ông làm Thành Hoàng. Trong đình có câu đối ngợi ca công đức của ông như sau: “Mộc tượng giáo dân nguyên hữu ý; Kiến đô lập quốc sử ghi công” nghĩa là: Dạy dân nghề mộc vốn có ý; Dựng đô, mở nước sử ghi công. Người Việt tôn ông làm Tổ nghề mộc, nghề chạm khắc gỗ, khảm trai của Việt Nam.

Ở Ninh Bình, Ninh Hữu Hưng được thờ ở miếu thờ Đức Vân Lôi Đại Thần, trong núi Phượng Sơn, thôn Liên Huy, xã Gia Thịnh, huyện Gia Viễn; đền Bim, thôn Chi Phong, xã Trường Yên, Hoa Lư (thế kỉ X là thành Tây của kinh đô Hoa Lư), phối thờ cùng thờ thần Quý Minh trấn ở phía nam của kinh thành - cố đô Hoa Lư trong Hoa Lư tứ trấn, một hiện tượng thần thánh hóa một số vị tướng dưới triều nhà Đinh và Tiền Lê ở các di tích lịch sử, văn hóa trong không  gian văn hóa Hoa Lư tứ trấn của Ninh Bình.

 

MAI ĐỨC HẠNH

Văn nghệ Ninh Bình

Số 221 – 222 (1+2/2019, tr.126 – 130